Con gà, quả trứng khó lấy hóa đơn: Luật sư đề xuất “2 làn đường” tính thuế
(Dân trí) - Chuyên gia đề xuất phương án chứng từ thay thế cho những giao dịch thực tế với người sản xuất nhỏ lẻ; hộ kinh doanh quy mô dưới 10 tỷ đồng được lựa chọn cách tính thuế phù hợp...
Sau khi báo Dân trí chia sẻ những vướng mắc của hộ kinh doanh về việc “Con gà, quả trứng, bó rau ngoài chợ khó lấy hóa đơn: Gỡ cách nào?” , phóng viên tiếp tục ghi nhận những đề xuất giải pháp tháo gỡ của Luật sư Huỳnh Mẫn Kỳ, Đoàn luật sư TP Đồng Nai.
Từ vướng mắc con gà, quả trứng, bó rau khó lấy hóa đơn của hộ kinh doanh, vậy những giao dịch thực tế với nông dân, hộ sản xuất nhỏ lẻ nên tháo gỡ bằng cơ chế nào?
- Câu chuyện con gà, quả trứng hay tô phở cho thấy một điểm rất đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, chuỗi cung ứng của khu vực kinh doanh nhỏ chưa hoàn toàn được “hóa đơn hóa”. Quán ăn có thể mua rau của người trồng rau, mua gà của hộ chăn nuôi, mua cá ngoài chợ, mua một số nguyên liệu từ người sản xuất nhỏ… Đó đều có thể là những giao dịch có thật, hợp pháp và phục vụ trực tiếp cho hoạt động kinh doanh, nhưng người bán không phải lúc nào cũng có khả năng hoặc nghĩa vụ xuất hóa đơn.
Nếu pháp luật chỉ công nhận chi phí khi có hóa đơn theo chuẩn thông thường thì sẽ phát sinh một nghịch lý, chi phí thực tế đã bỏ ra nhưng về mặt thuế lại có nguy cơ bị coi như không tồn tại. Khi đó lợi nhuận tính thuế cao hơn lợi nhuận thực tế và chính sách giảm 30% thuế có thể bị giảm đáng kể ý nghĩa.
Theo tôi, nên thiết kế cơ chế theo hướng phân tầng.
Cụ thể, đối với hộ kinh doanh quy mô nhỏ, có doanh thu trong một ngưỡng nhất định, nên tiếp tục ưu tiên phương pháp tính thuế đơn giản theo doanh thu, với tỷ lệ được xây dựng riêng cho từng nhóm ngành nghề. Nhà nước quản lý thật chặt doanh thu đầu ra thông qua hóa đơn điện tử, máy tính tiền và dữ liệu thanh toán, đổi lại, người kinh doanh không phải chứng minh từng khoản chi phí nhỏ phát sinh hằng ngày.
Đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ lựa chọn hoặc thuộc trường hợp tính thuế trên thu nhập, tức doanh thu trừ chi phí, thì pháp luật cần thừa nhận hai nhóm chứng từ đầu vào. Một là hóa đơn điện tử đối với những giao dịch mà người bán có nghĩa vụ xuất hóa đơn. Hai là chứng từ thay thế đối với những giao dịch thực tế với nông dân, người sản xuất nhỏ lẻ, người không thuộc diện xuất hóa đơn.
Nếu cho phép dùng chứng từ thay thế đối với khoản mua nhỏ lẻ, làm sao để vừa ghi nhận đúng chi phí thực tế của hộ kinh doanh, vừa ngăn tình trạng lập khống để giảm thuế?
Chứng từ thay thế nên rất đơn giản: bảng kê điện tử ghi người bán, loại hàng hóa, số lượng, giá trị, ngày giao dịch, kèm dấu vết thanh toán hoặc tài liệu chứng minh giao dịch. Không nên yêu cầu một quán ăn phải thu thập quá nhiều thông tin cá nhân của từng người bán vài ký rau, vài con gà hay vài chục quả trứng…
Vấn đề quan trọng là giao dịch có thật hay không, chứ không phải người kinh doanh có đủ một bộ hồ sơ hành chính phức tạp hay không.

Hàng hóa ở chợ truyền thống (Ảnh: DT).
Ở chiều ngược lại, để tránh việc lợi dụng bảng kê để “độn” chi phí, Nhà nước hoàn toàn có thể đặt giới hạn và cơ chế kiểm soát. Những khoản mua có giá trị lớn phải thanh toán không dùng tiền mặt, bảng kê phải lưu trên hệ thống điện tử, giá mua bất thường so với thị trường hoặc tỷ lệ chi phí bất thường so với doanh thu sẽ được hệ thống quản lý thuế cảnh báo để hậu kiểm.
Đây là điểm cần thay đổi trong tư duy quản lý, không kiểm tra hàng triệu giao dịch nhỏ như nhau, mà quản lý theo mức độ rủi ro.
Ví dụ, một quán phở khai doanh thu 4 tỷ đồng một năm, toàn bộ doanh thu đã đi qua máy tính tiền và hóa đơn điện tử, tỷ lệ nguyên liệu trên doanh thu nằm trong biên độ bình thường của ngành ăn uống thì không cần thiết phải yêu cầu chủ quán giải trình từng con gà, từng ký thịt hay từng bó rau.
Nhưng nếu một cơ sở khai doanh thu rất thấp trong khi dòng tiền vào tài khoản, lượng hàng nhập hoặc dữ liệu từ nền tảng giao hàng cho thấy doanh số rất lớn thì đó mới là trường hợp cần kiểm tra.
Muốn vậy, vai trò của dữ liệu và hậu kiểm theo rủi ro nên được thiết kế ra sao?
Nhà nước hiện có lợi thế rất lớn về dữ liệu. Hóa đơn điện tử, máy tính tiền, ngân hàng, thương mại điện tử, đơn vị giao hàng và dữ liệu quản lý thuế có thể tạo thành hệ thống đối chiếu doanh thu tương đối chính xác. Vì vậy, càng số hóa được doanh thu đầu ra thì càng có điều kiện nới thủ tục chứng minh những khoản đầu vào nhỏ lẻ.
Đối với doanh nghiệp siêu nhỏ cũng cần áp dụng tinh thần tương tự. Luật thuế hiện nay đã có thuế suất thấp hơn cho doanh nghiệp quy mô nhỏ, rồi chính sách mới tiếp tục giảm 30% số thuế phải nộp cho doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng. Nhưng nếu một doanh nghiệp chỉ có vài lao động vẫn phải vận hành một hệ thống kế toán, chứng từ gần như doanh nghiệp lớn thì chi phí tuân thủ có thể ăn vào chính phần ưu đãi mà Nhà nước dành cho họ.
Vì vậy, nên xây dựng một chế độ kế toán - thuế riêng, thật sự đơn giản cho doanh nghiệp siêu nhỏ, sổ thu - chi điện tử tối giản, báo cáo thuế tích hợp, dữ liệu hóa đơn được tự động đưa vào tờ khai và hạn chế tối đa việc người nộp thuế phải kê khai lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có.
Có đề xuất nên cho nhóm hộ kinh doanh và doanh nghiệp dưới 10 tỷ đồng được lựa chọn giữa tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu và tính theo doanh thu trừ chi phí, ông nghĩ sao?
Theo tôi, nên cho hộ kinh doanh và các chủ thể kinh doanh quy mô nhỏ có doanh thu không quá 10 tỷ đồng quyền lựa chọn phương pháp tính thuế phù hợp với khả năng quản trị của mình, ít nhất trong giai đoạn chuyển tiếp hiện nay.
Bởi thực tế, doanh thu giống nhau nhưng cấu trúc kinh doanh có thể hoàn toàn khác nhau. Một cơ sở kinh doanh dịch vụ có doanh thu 5 tỷ đồng nhưng chi phí đầu vào rất thấp, trong khi một cửa hàng thực phẩm, quán ăn hay cơ sở sản xuất cũng doanh thu 5 tỷ đồng nhưng phần lớn tiền thu được phải dùng để mua hàng hóa, nguyên liệu, trả tiền thuê mặt bằng và nhân công. Nếu chỉ nhìn vào doanh thu mà áp dụng một cách tính duy nhất cho tất cả thì rất khó phản ánh đúng khả năng đóng thuế.
Vì vậy, nên thiết kế hai “làn đường”.
Người kinh doanh có hệ thống kế toán, hóa đơn, chứng từ đầy đủ thì có thể lựa chọn tính thuế trên thu nhập thực tế, tức doanh thu trừ chi phí hợp lý. Cách này bảo đảm đúng bản chất của thuế thu nhập, kinh doanh có lãi nhiều thì đóng nhiều, lãi ít thì đóng ít, nếu thực sự không có thu nhập chịu thuế thì không thể coi doanh thu là lợi nhuận để đánh thuế.
Ngược lại, đối với những hộ và cơ sở rất nhỏ, chuỗi đầu vào còn phân tán, khả năng kế toán hạn chế thì nên được lựa chọn phương pháp tỷ lệ trên doanh thu. Khi chọn phương pháp này, họ không phải chứng minh từng khoản chi phí đầu vào để xác định lợi nhuận, Nhà nước chỉ cần quản lý chặt doanh thu thực tế và áp dụng tỷ lệ thuế phù hợp từng ngành nghề.
Pháp luật hiện nay đã thừa nhận tư duy lựa chọn này ở một mức độ nhất định đối với hộ kinh doanh. Do đó, vấn đề cần cân nhắc là có thể mở rộng ngưỡng lựa chọn lên 10 tỷ đồng hay không, để tương thích hơn với quy mô của doanh nghiệp siêu nhỏ và giảm cú sốc tuân thủ trong giai đoạn chuyển đổi.
Xin cám ơn ông!





