Người kỹ sư xứ Nghệ và 48 giờ chuẩn bị theo Bác Hồ về nước năm 1946
(Dân trí) - Chỉ có 48 giờ để chuẩn bị, kỹ sư Võ Quí Huân rời Pháp theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bỏ lại tương lai rộng mở nơi đất khách để trở về phục vụ Tổ quốc.
Từ quyết định lên tàu theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước chỉ sau 48 giờ chuẩn bị, kỹ sư Võ Quí Huân đã góp phần đặt những viên gạch đầu tiên cho ngành luyện kim, công nghiệp quốc phòng và đào tạo kỹ thuật của Việt Nam.
Cuộc đời ông là dấu ấn của một thế hệ trí thức đã chọn trở về theo tiếng gọi của Tổ quốc.
48 giờ chuẩn bị trước khi theo Bác về nước
Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp với tư cách là thượng khách cùng phái đoàn của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự Hội nghị Fontainebleau.
Bác Hồ đã gặp kỹ sư Võ Quí Huân qua sự giới thiệu của ông Phạm Văn Đồng, lúc bấy giờ là Trưởng phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau và ông Trần Ngọc Danh, đại diện Chính phủ Việt Nam tại Pháp.
Năm đó, 4 trí thức theo Bác Hồ về nước gồm kỹ sư Trần Đại Nghĩa, kỹ sư Võ Quí Huân, kỹ sư Võ Đình Quỳnh và bác sĩ Trần Hữu Tước. Họ đều là những trí thức trẻ có công việc ổn định và điều kiện sống tốt tại Pháp, nhưng đã lựa chọn trở về theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tham gia kháng chiến, phụng sự Tổ quốc.

Kỹ sư Võ Quí Huân (ngoài cùng bên phải) đi cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Pháp năm 1946 (Ảnh: Tư liệu).
Trong số này, kỹ sư Võ Quí Huân là người duy nhất đã có gia đình riêng. Dù vậy, ông vẫn quyết định gác lại cuộc sống ổn định nơi đất khách để theo Bác trở về Việt Nam.
Theo một số ghi chép về cuộc gặp giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và triết gia Trần Đức Thảo tại Pháp ngày 25/6/1946, Người nói: "Sớm muộn gì cuộc chiến tranh Việt - Pháp sẽ không tránh khỏi, chú Phạm Quang Lễ (sau này Bác Hồ đặt tên là Trần Đại Nghĩa), chú Võ Quí Huân về nước sẽ chế tạo được vũ khí đánh giặc, chú Trần Hữu Tước bào chế thuốc men, đó là những yêu cầu khẩn thiết nhất lúc này...".
Hội nghị Fontainebleau giữa chính phủ Pháp và Việt Nam đã rơi vào bế tắc khi Pháp ngoan cố không chịu thừa nhận độc lập và thống nhất của Việt Nam. Hội nghị kết thúc ngày 10/9/1946.
Nhận tin Bác Hồ báo chuẩn bị về nước cùng Bác, kỹ sư Võ Quí Huân chỉ có đúng 48 giờ để chuẩn bị. Quyết định trở về dường như đã được ông đặt ra từ những ngày đầu sang Pháp. Thế nhưng, đúng thời điểm này, vợ ông đang dự thi tiến sĩ tại một thành phố khác, còn con gái chỉ mới 2 tuổi.

Kỹ sư Võ Quí Huân và vợ tại Pháp năm 1940 (Ảnh: Tư liệu).
Ông gửi con gái Việt Nga ở lại nhờ một người bạn trông nom, rồi gọi điện cho vợ: "Bác nói, chỉ đi khoảng vài ba tháng thôi".
Và ông quyết định rời bỏ cuộc sống ổn định tại Pháp, trở về quê hương.
Trong 33 ngày đêm lênh đênh trên biển, Bác Hồ nói như dặn dò, nhắc nhở: "Ở nhà không có gì đâu, nước ta đi vào kháng chiến, kiến quốc thiếu nhiều thứ. Thiếu máy móc, nguyên liệu, thiếu cả thợ lành nghề, tiền của lại ít.
Các chú về phải chịu thương chịu khó làm ăn, đưa những cái đã học ở nước ngoài về áp dụng thiết thực vào hoàn cảnh trong nước, giúp đỡ và hướng dẫn anh em trong nước cùng làm".

Bác Hồ bế cháu bé Việt Nga tại Pháp tháng 7/1946. Ảnh do Kỹ sư Võ Quí Huân chụp.
Thấu hiểu trọn vẹn sự hy sinh thầm lặng của kỹ sư Võ Quí Huân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Về cùng với Bác để nghiên cứu một số vấn đề kiến thiết đất nước trong một thời gian mấy tháng rồi trở sang Pháp. Sau đó sẽ quyết định việc về nước hẳn hay tiếp tục công tác ở Pháp".
Những kỷ vật, tư liệu quý hiếm về kỹ sư Võ Quí Huân được người con gái là Võ Quí Yêu Hoà Bình nâng niu, gìn giữ. Bà Hòa Bình vẫn nhớ như in từng mốc lịch sử về người cha đáng kính.
"Cha tôi luôn tự hào được Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa về nước nên ông muốn chứng tỏ rằng, Người đã không uổng công", bà Hòa Bình xúc động.
Trí thức xứ Nghệ sở hữu 3 bằng kỹ sư tại Pháp
Cuộc đời của kỹ sư Võ Quí Huân được tái hiện thông qua cuốn sách Võ Quí Huân - Người kỹ sư nặng tình non nước, cùng nhiều hình ảnh và tư liệu quý. Những hiện vật này được người con gái Võ Qúi Yêu Hòa Bình và gia đình gìn giữ nâng niu nhiều năm nay.

Bà Võ Quí Yêu Hoà Bình chia sẻ với phóng viên Báo Dân trí trong căn nhà từng gắn bó với quãng thời gian công tác của kỹ sư Võ Quí Huân khi ông làm việc tại Hà Nội (Ảnh: Thanh Bình).
Ông sinh ngày 7/11/1912 tại huyện Thanh Chương (cũ) tỉnh Nghệ An trong một gia đình có truyền thống hiếu học và yêu nước. Vùng quê ấy được hun đúc bởi khí thiêng núi Hồng sông Lam, cái nôi của phong trào Văn Thân và Cần Vương chống Pháp.
Trong những năm 1930, chàng trai trẻ đã tận mắt chứng kiến các cuộc biểu tình của dân chúng ở Nghệ - Tĩnh đứng lên đấu tranh chống lại chế độ sưu cao thuế nặng của nhà cầm quyền Pháp.
Sau này, Võ Quí Huân hoạt động trong phong trào Bình dân và là Chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Đông Dương hoạt động (có tên: L’Activité Indochinoise), một tờ báo ba thứ tiếng: Việt - Pháp - Hán có xu hướng tiến bộ, xuất bản vào thứ tư hàng tuần.
Số báo đầu tiên của tờ "Đông Dương hoạt động" ra ngày 6/1/1937, đến số 10 ra ngày 7/4/1937 là số cuối cùng vì bị chính quyền thực dân rút giấy phép hoạt động và buộc phải đình bản, đóng cửa tòa báo. Võ Quí Huân sang Pháp học tập năm 1937.
Tại Paris, chàng thanh niên xứ Nghệ theo học 3 ngành gồm: kỹ sư cơ - điện, kỹ sư đúc - luyện kim, kỹ sư kỹ nghệ chuyên nghiệp và đang theo học tiến sĩ ngành cơ lý học (chỉ còn 1 năm kết thúc).

Kỹ sư Võ Quí Huân là một tấm gương sáng ngời về tinh thần ham học, ý chí tự lập và lòng yêu nước (Ảnh: Tư liệu).
Các ngành học này đều đòi hỏi khối lượng kiến thức khổng lồ, khô khan, tuy nhiên, khi nhận thấy những tri thức có thể hữu ích cho đất nước sau này, anh vẫn kiên trì dùi mài trong thư viện và thực hành ở các nhà máy.
Kỹ sư trẻ luôn tận dụng mối quan hệ trong công việc và thông qua một số sách báo tiến bộ để tìm hiểu các khuynh hướng chính trị. Đồng thời, tranh thủ tiếp xúc với một số đảng viên Đảng Cộng sản Pháp có tư tưởng cấp tiến.
Năm 1939, anh gia nhập Tổng Liên đoàn Lao động Pháp, được bầu làm Thư ký Hội hữu nghị Pháp - Việt rồi thành lập ra Hội Tương tế và Hội Ái hữu, đồng thời, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Pháp.
Trong thời gian này, Võ Quí Huân được tuyển dụng làm sĩ quan máy trưởng tại hãng tàu thủy Compagnie Transatlantique của Pháp, hưởng những ưu đãi về tiền lương, điều kiện ăn, ở và sinh hoạt.
Qua các buổi tọa đàm chính trị, các cuộc mít tinh của phong trào bình dân đã giúp Võ Quí Huân gần gũi với anh em lính thợ, lính chiến. Chứng kiến môi trường làm việc vất vả của họ, anh hiểu rõ và đồng cảm với thân phận của những người lao động Việt Nam tại Pháp.
Ngày 1/9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, lo sợ bản thân sẽ phải đi lính cho Pháp, sĩ quan máy trưởng cùng các lính thợ người Việt xin thôi việc tại hãng tàu thủy.
Một thời gian sau, kỹ sư Huân nhận công tác ở hãng máy bay Potez và được đề bạt làm kỹ sư trưởng chuyên về động cơ, máy nổ.
Trong bản Lý lịch của người xin vào Đảng (tài liệu do gia đình cung cấp), kỹ sư Võ Quí Huân viết: "Khi phái đoàn Việt Nam sang Pháp và Hồ Chủ tịch sang, tôi xin nghỉ việc ở nhà máy, để giúp phái đoàn và Hồ Chủ tịch. Trước hết phái đoàn giao cho tôi việc thành lập một tổ chức Pháp - Việt hữu nghị để làm hậu thuẫn cho các cuộc đàm phán.
Tôi hết sức chạy, vận động các giới trí thức và chính trị, các nhà có tai mắt tham gia vào tổ chức đó".

Kỹ sư Võ Quí Huân đang sửa micro (bên trái) tại Pháp (Ảnh: Gia đình cung cấp).
Đồng thời, vị trí thức yêu nước cũng tổ chức các cuộc tiếp đón và hội nghị tại nhiều tỉnh thành nước Pháp.
Mẻ gang đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Khi về nước, kỹ sư Võ Quí Huân được ông Phạm Văn Đồng (lúc bấy giờ là Bộ trưởng Bộ Kinh tế) cử giữ chức chánh văn phòng Bộ này.
Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, kỹ sư Võ Quí Huân xin ông Phạm Văn Đồng cho xuống cơ sở để sử dụng chuyên môn của mình, phục vụ sản xuất vũ khí.
Năm 1947, ông đảm trách cương vị Giám đốc Sở Khoáng chất Kỹ nghệ Trung Bộ kiêm Tổng Thư ký Hội đồng sản xuất Kỹ nghệ miền nam và Liên khu 4.

khu trưng bày các hình ảnh gia đình của kỹ sư Võ Quí Huân (Ảnh: Thanh Bình).
Sau Cách mạng Tháng Tám, vũ khí cho Lực lượng Vũ trang nhân dân Việt Nam còn rất thiếu, chỉ có một số đơn vị được trang bị bằng vũ khí thu từ Bảo an binh và quân Nhật - Pháp.
Mỗi chiến khu đều coi trọng việc chế tạo vũ khí, tổ chức cơ sở sản xuất, sửa chữa các loại súng, sản xuất vỏ lựu đạn bằng gang và các chi tiết cơ khí của lựu đạn...
Nguồn nguyên liệu lấy từ ống nước bằng gang đào bới lên, chở từ các thành phố, đập vụn, bỏ vào lò nung lại đã cạn kiệt, nguồn chảo gang, lưỡi cày quyên góp từ nhân dân cũng đã hết.
Trong không khí cả nước sôi sục bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, kỹ sư Võ Quí Huân bắt tay vào nghiên cứu, sản xuất mẻ gang đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ông đã nghiên cứu chế tạo chiếc máy nghiền bột giấy đầu tiên, đồng thời, chế tạo thành công máy tiện, các máy hơi loại lớn nhỏ, giúp khắc phục tình trạng thiếu máy móc tại các công xưởng ở Liên khu 4.
"Mấy anh em cùng về một lần với chúng ta, chú Nghĩa và chú Huân làm việc rất hăng hái và đắc lực, đã gắng sức rất nhiều trong công việc kháng chiến...", trích nội dung thư Bác Hồ gửi bác sĩ Trần Hữu Tước ngày 20/9/1947.
Trong trạng thái khẩn trương, lò cao thí nghiệm có dung tích nửa mét khối đã cho ra mẻ gang đầu tiên từ quặng sắt Vân Trình (Nghệ An), đánh dấu một mốc son mới trong sự nghiệp phát triển công nghiệp quốc phòng, ngành luyện kim Việt Nam và nền kinh tế kháng chiến của quân và dân ta.
Một quốc gia gần như chưa có nền công nghiệp nặng đã bắt đầu tự luyện gang giữa khói lửa chiến tranh.
Trước niềm vui này, ba công nhân đã đề nghị kỹ sư Võ Quí Huân thiết kế khuôn để đúc tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh để tỏ lòng biết ơn Bác đã đưa các Trí thức về xây dựng trên quê hương Xô Viết Nghệ - Tĩnh.

Kỹ sư Võ Quí Huân (thứ tư, từ phải sang) cùng bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ảnh:Tư liệu).
Bức tượng chân dung Hồ Chủ tịch được chuyển về Sở Khoáng chất kỹ nghệ Trung bộ rồi đầu năm 1949 được đem đi triển lãm ở Thanh Hóa, sau đó chuyển lên Việt Bắc cùng mô hình lò cao thí nghiệm.
Dựa trên lò cao thí nghiệm 3KC1, hàng loạt các thiết kế lò cao với dung tích và công suất cao hơn ra đời và đưa vào sản xuất.
Nền tảng cho công nghiệp quốc phòng
Biết tin mẻ gang đầu tiên thành công, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp chỉ đạo kỹ sư Võ Quí Huân cho chuyển lò cao sản xuất gang từ Nghệ An ra Thanh Hóa. Trước đó, máy bay Pháp đã ném bom, bắn phá các công xưởng dọc sông Lam.
Sau 15 tháng lao động khẩn trương các cán bộ kỹ thuật và công nhân quân giới đã xây dựng lò cao Như Xuân.

Lò cao kháng chiến Hải Vân tại Như Xuân, Thanh Hóa (Ảnh: PV).
Từ ngày xây dựng đến hết năm 1954, các lò cao luyện gang Như Xuân đã cung cấp gần 500 tấn gang cho các xưởng quân giới sản xuất lựu đạn, đạn súng cối, mìn và cho các làng nghề sản xuất lưỡi cày, diệp cày, chảo gang, nồi gang phục vụ kháng chiến.
Thành công này đặt nền móng cho các quả lựu đạn, trái mìn và nhiều loại vũ khí được Quân đội Nhân dân Việt Nam chế tạo đại trà, dưới sự thiết kế của kỹ sư Trần Đại Nghĩa và với nguồn gang do kỹ sư Võ Quí Huân cung cấp, góp phần quan trọng vào những thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 9 năm.

Bức ảnh do gia đình cùng cấp tại Đại hội Chiến sỹ thi đua ngành công nghiệp toàn quốc năm 1956. Hàng đầu bên phải là kỹ sư Võ Quí Huân, bên cạnh là kỹ sư Trần Đại Nghĩa (Ảnh: Thanh Bình).
Từ chuyến tàu rời nước Pháp năm 1946 chỉ sau 48 giờ chuẩn bị, kỹ sư Võ Quí Huân đã dành phần lớn cuộc đời còn lại cho những lò cao, công xưởng quân giới và lớp học kỹ thuật đầu tiên của Việt Nam.
Tên ông hôm nay được đặt cho nhiều tuyến đường, ông là đại diện tiêu biểu của một thế hệ trí thức, đã trở về đất nước trong những thời khắc gian nan nhất, để xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc theo tiếng gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Kỹ sư Võ Quí Huân mất ngày 1/10/1967, khi mới 55 tuổi, để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong gia đình cùng bạn bè, đồng nghiệp. Ông là một trong 4 trí thức đầu tiên trở về xây dựng và bảo vệ đất nước theo tiếng gọi của Bác Hồ.
Ông được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba năm 1999 và điều chỉnh lên hạng Nhất vào năm 2011.
Ông là một trong những trí thức tiêu biểu gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc ở thế kỷ XX. Nhiều thế hệ học sinh ở trường Đại học Công nghiệp mãi nhắc đến ông, vị Hiệu trưởng đầu tiên, người thầy uyên bác và tận tuỵ.
Ngày 12/11/2011, HĐND thành phố Hà Nội quyết định đặt tên con đường phía trước Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội là đường Võ Quí Huân. Tên ông cũng được đặt tại các con đường ở Đà Nẵng, Huế, Nghệ An.










