“Mắt thần” soi rõ đàn voi 9 con và nhiều loài thú quý hiếm giữa đại ngàn
(Dân trí) - Nhờ ứng dụng công nghệ bẫy ảnh, ngành chức năng Đà Nẵng từng bước khám phá sự phong phú của đa dạng sinh học, qua đó ghi nhận đàn voi rừng 9 con cùng nhiều loài thú quý hiếm trong tự nhiên.
Năm 2025, Ban quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng nhận tin báo của người dân tại khu vực Nà Lau, xã Quế Phước về dấu hiệu voi sinh sản. Đơn vị sau đó xây dựng kế hoạch, đặt 30 bẫy ảnh tại 15 vị trí thuộc các khu vực đàn voi thường di chuyển.

Bẫy ảnh phát hiện đàn voi 9 con trong rừng đặc dụng Đà Nẵng (Ảnh: Ban quản lý).
Đến năm 2026, qua thu thập và phân tích hình ảnh, Ban quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng ghi nhận đàn voi rừng gồm 7 con trưởng thành và 2 voi con đang sinh trưởng, phát triển tốt trong lâm phận Khu bảo tồn loài và sinh cảnh voi của đơn vị.
Ứng dụng đồng bộ các phương pháp giám sát đa dạng sinh học
Việc ứng dụng bẫy ảnh giúp Ban quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng theo dõi những hoạt động này mà không cần tác động đến môi trường sống của động vật. Dữ liệu thu được trở thành cơ sở khoa học phục vụ quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học.

Đàn voi đang sinh trưởng, phát triển tốt (Ảnh: Ban quản lý).
Theo lãnh đạo Ban quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng, trong bối cảnh đa dạng sinh học chịu sức ép từ suy giảm sinh cảnh, biến đổi khí hậu và tác động của con người, việc giám sát động vật hoang dã ngày càng quan trọng.
Hiện đơn vị triển khai song song hai phương pháp: Điều tra đa dạng sinh học bằng bẫy ảnh hệ thống và giám sát đa dạng sinh học bằng bẫy ảnh chủ đích.
Với phương pháp bẫy ảnh hệ thống, các thiết bị được bố trí theo ô lưới và quy trình khoa học. Cách làm này nhằm thu thập dữ liệu tổng thể về thành phần loài, mức độ phong phú, sự phân bố của động vật hoang dã trong khu vực rừng.

Hệ thống bẫy ảnh được đặt trong rừng để giám sát động vật (Ảnh: Ban quản lý).
Trong khi đó, bẫy ảnh chủ đích được đặt tại những nơi có dấu hiệu hoạt động của loài mục tiêu như tuyến di chuyển, bãi kiếm ăn, nguồn nước hoặc sinh cảnh quan trọng. Phương pháp này giúp theo dõi chuyên sâu các loài có giá trị bảo tồn cao.
Việc kết hợp hai phương pháp vừa bảo đảm tính khoa học trong đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học, vừa tăng khả năng ghi nhận các loài quý hiếm, khó quan sát ngoài thực địa.
Qua các đợt đặt bẫy ảnh, Ban quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng ghi nhận sự xuất hiện của nhiều loài động vật nguy cấp, quý, hiếm có giá trị bảo tồn cao.
Trong đó có các loài thú lớn và linh trưởng như voi châu Á, mang lớn, mang Trường Sơn, voọc chà vá chân nâu và voọc chà vá chân xám. Nhiều loài chim đặc hữu, quý hiếm như gà lôi trắng, trĩ sao, cùng các loài động vật rừng khác cũng được ghi nhận.

Gà lôi trắng (Ảnh: Ban quản lý).
Lãnh đạo Ban quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng cho biết sự hiện diện của các loài này phản ánh giá trị đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng đặc dụng. Đây cũng là cơ sở cho thấy công tác quản lý, bảo vệ rừng, duy trì sinh cảnh và kiểm soát các tác động tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên đang được triển khai.
Đáng chú ý, dữ liệu từ bẫy ảnh cung cấp thêm bằng chứng về sự phân bố, khu vực hoạt động, tập tính sinh học và khả năng sử dụng sinh cảnh của nhiều loài động vật hoang dã.
Những thông tin này là cơ sở để xây dựng phương án bảo tồn phù hợp, xác định khu vực cần ưu tiên bảo vệ và nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng.
Bảo tồn dựa trên khoa học và công nghệ
Xác định nhân lực là yếu tố quan trọng trong công tác bảo tồn thiên nhiên, Ban quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng chú trọng nâng cao chuyên môn cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng về giám sát đa dạng sinh học.
Thời gian qua, đơn vị tổ chức nhiều lớp tập huấn về kỹ thuật lắp đặt bẫy ảnh, lựa chọn vị trí đặt máy, quản lý, kiểm tra và thu hồi thiết bị ngoài thực địa.

Sơn dương (Ảnh: Ban quản lý).
Ban quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng cũng cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo, tập huấn chuyên sâu do cơ quan chuyên môn và tổ chức bảo tồn triển khai. Nội dung tập trung vào nhận diện loài, xử lý dữ liệu hình ảnh, quản lý thông tin giám sát và ứng dụng kết quả điều tra vào công tác quản lý, bảo tồn.
Qua đó, lực lượng bảo vệ rừng từng bước nâng cao kỹ năng thực địa, khả năng sử dụng thiết bị công nghệ và năng lực thu thập, phân tích dữ liệu đa dạng sinh học.
Theo Ban quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng, giá trị của bẫy ảnh không chỉ nằm ở việc ghi nhận động vật hoang dã mà còn ở khả năng cung cấp dữ liệu phục vụ quản lý và ra quyết định dựa trên bằng chứng khoa học.
Từ kết quả giám sát, đơn vị có thêm căn cứ xác định các khu vực trọng điểm cần ưu tiên bảo vệ, điều chỉnh phương án tuần tra và kiểm soát nguy cơ săn bắt, bẫy bắt trái phép cũng như các hoạt động xâm hại tài nguyên rừng.

Nai được phát hiện qua bẫy ảnh (Ảnh: Ban quản lý).
Hình ảnh, dữ liệu từ bẫy ảnh cũng trở thành công cụ trực quan để truyền thông, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ rừng và động vật hoang dã.
“Trong xu hướng quản lý tài nguyên dựa trên dữ liệu và ứng dụng công nghệ hiện đại, công tác giám sát đa dạng sinh học bằng bẫy ảnh đang mở ra hướng đi hiệu quả cho hoạt động bảo tồn thiên nhiên”, lãnh đạo Ban quản lý rừng đặc dụng Đà Nẵng cho biết.





