Chủ nhật, 31/07/2011 - 11:08

Bạn đọc viết:

Quan niệm trái chiều về tình dục đồng giới nam

Dân trí Việt Nam có trên 30 ngàn nam giới có quan hệ tình dục đồng giới (TDĐG), xu hướng này đang ngày một gia tăng thu hút sự quan tâm của xã hội. Người thì cho rằng TDĐG là bất hợp pháp, là vô đạo đức… người lại coi đó là vấn đề bình thường.

Theo báo cáo nghiên cứu “Tình dục đồng tính nam (ĐTN) tại Việt Nam - Sự kỳ thị và hệ quả xã hộicủa Trung tâm Phòng chống STDs/HIV/AIDS, thì có đến 76% ĐTN được hỏi cho rằng, về mặt pháp lý họ có quyền quan hệ tình dục với người cùng giới tính; chỉ có 19% tự nhận họ không có quyền này.

Khi được hỏi về vấn đề này, anh H. một ĐTN Hà Nội chia sẻ:“Tôi nghĩ tình dục ĐTN là hợp pháp vì đó là vấn đề cá nhân, vì chúng tôi quan hệ với nhau cũng không có ảnh hưởng gì đến xã hội cả”.

Thực tế, cho đến nay chưa có quy định pháp lý nào quy định về quyền quan hệ tình dục của người trưởng thành ở Việt Nam. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 chỉ cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính (khoản 5, điều 10).

Cũng theo kết quả nghiên cứu trên, 79, 2% ĐTN cho rằng về mặt đạo đức họ có quyền quan hệ tình dục với người cùng giới.

Anh K. một ĐTN bóng lộ, Từ Liêm, Hà Nội cho biết: “Quan hệ TDĐG không phải là vấn đề đạo đức. Chúng tôi yêu nhau, đối xử tốt với nhau, đối xử tốt với mọi người, thì không thể bảo chúng tôi là không có đạo đức. Mong mọi người hãy chấp nhận và bớt kỳ thị với chúng tôi”.

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra, mặc dù có sự khác nhau về một số giá trị chuẩn mực truyền thống, song đa số ĐTN cho rằng người ĐTN có thể là người có đạo đức tốt (94%).

Có đến 83% ĐTN được hỏi cho biết TDĐG chỉ là vấn đề riêng tư và chẳng có liên quan gì đến thuần phong mỹ tục. Trái ngược với ý kiến của ĐTN, đa số (71%) người dân trong cộng đồng cho rằng, sở thích TDĐG là trái với thuần phong mỹ tục. Khoảng 1/3 người dân cộng đồng cho rằng người ĐTN có lỗi với gia đình.

Chị Thúy Lan, người dân Cần Thơ chia sẻ: “Nam giới quan hệ tình dục với nam giới là trái với thuần phong mỹ tục, những người này có lỗi với gia đình vì không duy trì được nòi giống vì dòng tộc, dòng họ rất quan trọng”.

Có thể thấy, đa số người dân cộng đồng vẫn xem xét vấn đề TDĐG nam dưới góc độ đạo đức và văn hoá mà không quan tâm đến các yếu tố di truyền, sinh học một cách nghiêm túc để hiểu rõ hơn xu hướng tình dục này. Do đó, phần lớn người dân cộng đồng cho rằng TDĐG là trái với thuần phong mỹ tục, trái với lẽ tự nhiên.

87% người ĐTN cho rằng “bẩm sinh” có thể là một trong các nguyên nhân của sở thích tình dục ĐTN. Tỷ lệ lựa chọn nguyên nhân này ở nhóm người dân trong cộng đồng là 62%. Có 36 % ĐTN cho rằng, nguyên nhân khác của sở thích tình dục đồng tính là “khi con nhỏ được dạy dỗ không đúng cách”. Tỷ lệ này ở nhóm người dân trong cộng đồng là cao hơn, chiếm 43%. Bên cạnh đó, một số nguyên nhân quan trọng được nhắc đến là: do tiếp xúc với người đồng tính: 54%; bị người đồng tính lôi kéo: 42.3%; muốn thành người hiện đại: 24.8%.

Đa số ĐTN cho rằng, không thể thay đổi được sở thích TDĐG. Chỉ có khoảng 25% nghĩ có thể thay đổi được sở thích TDĐG bằng các liệu pháp tâm lý và giáo dục. Các biện pháp y tế, cách ly, ép lấy vợ chỉ được một bộ phận nhỏ ĐTN tin rằng có hiệu quả.

Anh Phát, một ĐTN tại Hà Nội chia sẻ: “Không thể thay đổi được sở thích đồng tính. Em cũng đã nhiều lần “thử” rồi nhưng không được, bố em đã gần 80 tuổi, em cũng muốn lấy vợ cho bố em yên tâm và đã đưa một cô bạn gái về nhà nhưng sau 1 tháng bạn gái em bỏ đi. Mỗi lần muốn gần gũi với bạn gái em lại bị hiện tượng “trên bảo dưới không nghe”. Em đau khổ lắm những chẳng biết làm thế nào”.

Nhìn chung, quan niệm về TDĐG nam ở Việt Nam hiện nay còn rất phức tạp với những nhận thức trái chiều nhau. Có lẽ đã đến lúc cần có những cuộc truyền thông nâng cao nhận thức để cộng đồng xã hội có cái nhìn “thoáng” hơn với nhóm người có xu hướng tình dục khác thường này để hỗ trợ và giúp đỡ họ.

ThS. Thân Trung Dũng (Học viện Hậu cần)