Thực tế Mỹ phải đối mặt sau khi khai hỏa vào 13.000 mục tiêu của Iran

(Dân trí) - Cuộc chiến với Iran khiến Mỹ đối mặt với một thực tế: Kho vũ khí hiện đại của họ đã hao hụt đáng kể và sẽ mất thời gian dài để hồi phục.

Thực tế Mỹ phải đối mặt sau khi khai hỏa vào 13.000 mục tiêu của Iran - 1

Tên lửa của Mỹ khai hỏa (Ảnh: Hải quân Mỹ).

Kể từ ngày 28/2, khi Mỹ phát động Chiến dịch “Cuồng nộ” nhằm vào Iran, Washington đã tiến hành chiến dịch không kích và tấn công tên lửa dài ngày với cường độ cao, đánh trúng hơn 13.000 mục tiêu trước khi lệnh ngừng bắn mong manh hiện tại được thiết lập.

Theo Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), Mỹ đã tiêu tốn một tỷ lệ lớn trong kho vũ khí tiên tiến nhất của mình.

Điều đáng lo ngại hơn là mức tiêu hao của các hệ thống phòng thủ. Mỹ đã phóng khoảng 50% kho tên lửa đánh chặn Patriot PAC-3, tương đương khoảng 1.060-1.430 quả trong kho dự trữ trước xung đột. Đây là loại tên lửa cực kỳ hiện đại, có khả năng đánh chặn cả tên lửa đạn đạo, nhưng mỗi quả có giá khoảng 4,2 triệu USD.

Các tên lửa đánh chặn của hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối THAAD, với giá khoảng 12,7 triệu USD/quả, thậm chí còn bị tiêu hao mạnh hơn: từ 53-80% lượng dự trữ, tương đương khoảng 190-290 quả, đã được sử dụng. Chỉ riêng 2 hệ thống này đã tiêu tốn số vũ khí trị giá khoảng 7-10 tỷ USD.

Trên biển, Hải quân Mỹ cũng đã bắn một lượng lớn tên lửa, đặc biệt ở phía Đông Địa Trung Hải trong giai đoạn đầu chiến dịch. CSIS cho biết khoảng 40% tên lửa đánh chặn phòng thủ tên lửa đạn đạo Standard Missile-3 và hơn 45% tên lửa đa năng đời mới Standard Missile-6 trên các tàu chiến trang bị hệ thống Aegis trong khu vực đã được sử dụng.

Standard Missile-3 cực kỳ đắt đỏ, khoảng 20 triệu USD mỗi quả, điều dễ hiểu vì đây thực chất là vũ khí không gian mang theo “phương tiện tiêu diệt ngoài khí quyển” thay vì đầu đạn thông thường, có thể bắn hạ tên lửa đạn đạo hoặc vệ tinh ngoài khí quyển.

Standard Missile-3 hiện chỉ được sản xuất với tốc độ khoảng 12 quả mỗi năm. Nếu tính thêm Standard Missile-6, một trong số ít vũ khí được cho là có khả năng đối phó mối đe dọa siêu vượt âm, tổng chi phí số vũ khí đã sử dụng lên tới 7-9 tỷ USD.

Kho vũ khí tấn công cũng bị ảnh hưởng không kém. Theo CSIS, riêng hải quân Mỹ đã phóng hơn 1.000 tên lửa hành trình tấn công mặt đất Tomahawk, tương đương khoảng 1/3 tổng kho dự trữ của Mỹ. Trong các năm gần đây, tốc độ sản xuất Tomahawk chưa tới 60 quả mỗi năm, nghĩa là việc bổ sung sẽ mất nhiều năm ngay cả khi tăng mạnh sản lượng.

Các tiêm kích hạm F/A-18 Super Hornet hoạt động trong điều kiện giành ưu thế trên không đã chuyển sang sử dụng các loại bom dẫn đường chính xác rẻ hơn trong giai đoạn cuối chiến dịch, như bom thông minh JDAM và các loại vũ khí tấn công tầm xa nhỏ hơn, giá rẻ hơn.

Tuy nhiên, các cuộc họp báo của Lầu Năm Góc cho thấy giai đoạn đầu Mỹ phụ thuộc rất nhiều vào các loại vũ khí phóng từ trên không có giá trị cao như tên lửa không đối đất tầm xa JASSM, một loại vũ khí chủ lực khác khiến các kho dự trữ bị ảnh hưởng đáng kể.

Chi phí còn lớn hơn đến từ các nền tảng chiến lược. Theo đánh giá của CSIS, máy bay ném bom tàng hình B-2 Spirit đã sử dụng bom xuyên phá hạng nặng GBU-57 cùng nhiều loại vũ khí chính xác khác nhằm vào các mục tiêu hạt nhân và sở chỉ huy được chôn sâu dưới lòng đất.

GBU-57 không quá tinh vi hay đắt đỏ như Tomahawk hoặc JASSM. Về cơ bản, nó giống “một cây bút chì thép khổng lồ” gắn đầu đạn và hệ thống dẫn đường của bom thông minh. Tuy nhiên, nó vẫn không rẻ và Mỹ cũng không sở hữu với số lượng lớn.

Nguồn nguyên liệu thô phục vụ các hệ thống này còn tạo thêm một lớp dễ tổn thương chiến lược khác. Vũ khí chính xác hiện đại phụ thuộc vào các nguyên tố đất hiếm, đặc biệt là neodymium, praseodymium và dysprosium, để sản xuất nam châm trong hệ thống dẫn đường, động cơ, cảm biến và chip điện tử.

Mỹ sản xuất rất ít các chất này trong nước, và phụ thuộc vào nhập khẩu từ các đối thủ chiến lược. Việc bổ sung cả đạn dược lẫn khoáng sản để sản xuất chúng không chỉ là thách thức công nghiệp mà còn là vấn đề toàn cầu.

Theo các chuyên gia, thực tế này có thể sẽ khiến Mỹ cân nhắc kỹ hơn về việc nối lại các đợt tập kích quy mô lớn nhằm vào Iran.

Với tình hình hiện tại, việc tái xây dựng kho vũ khí có thể mất tới 4 năm ngay cả khi tăng tốc sản xuất, và phần lớn điều đó phụ thuộc vào các loại hàng hóa mà Mỹ không kiểm soát.

Theo Telegraph