Tâm điểm

Giao KPI tăng trưởng: Tư duy mới về quản trị quốc gia

Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030. Mục tiêu tổng quát là phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân.

Mục tiêu này khi thực hiện thành công sẽ góp phần quan trọng để Việt Nam tránh bẫy thu nhập trung bình và hướng tới một mục tiêu lớn hơn là vị thế mới của nền kinh tế: trở thành quốc gia công nghiệp, phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Những giai đoạn kế hoạch tới đây và các thập kỷ tiếp theo là quá trình tích lũy nguồn lực cần thiết, thực hiện các chiến lược, hành động nhằm đạt được vị thế này.

Hướng tới vị thế là một nền kinh tế phát triển, thu nhập cao thì điều cốt lõi là phải tăng trưởng cao một cách bền bỉ và bền vững. Nhiều nền kinh tế tại Đông Á trong những năm gần đây với những điều kiện tương tự Việt Nam đã thành công khi duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bền vững trong thời gian dài. Với những chính sách đúng, nỗ lực luôn hoàn thiện mình, luôn hoàn thiện thể chế, phương thức điều hành, quản trị quốc gia, Việt Nam hoàn toàn có thể thành công trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bền vững giống như nhiều nền kinh tế khác đã thực hiện được để trở thành nền kinh tế phát triển, thu nhập cao.

Giao KPI tăng trưởng: Tư duy mới về quản trị quốc gia - 1

TPHCM rực rỡ về đêm (Ảnh: Nam Anh).

Tiềm lực và tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay cho phép chúng ta đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, tiến lên một vị thế mới, một giai đoạn phát triển mới vượt trội. Mục tiêu này cũng thể hiện khát vọng song cũng tạo áp lực tích cực buộc nền kinh tế phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Chúng ta không thể cứ tiếp tục dựa vào mô hình cũ với việc thâm dụng lao động giá rẻ, tiêu chuẩn môi trường thấp, mà phải chuyển sang mô hình dựa trên năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, tri thức và nguồn vốn con người.

Không chỉ là khát vọng, đây cũng có thể coi là một "mệnh lệnh" từ thực tiễn để chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy cải cách thể chế, khai phóng nguồn lực, giải phóng sức sản xuất. Dư địa cải cách thể chế hiện nay là rất lớn, giống như một "mỏ vàng" chưa được khai thác hết. Nếu tháo gỡ được các điểm nghẽn về pháp luật và thể chế, chúng ta có thể huy động nguồn lực đầu tư rất lớn, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển đổi mô hình kinh tế.

Một điểm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội lần này là Quốc hội giao mục tiêu tăng trưởng cho từng địa phương. Trong đó, địa phương được giao mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026-2030 cao nhất là Hải Phòng, với 13-13,5% tăng trưởng GRDP năm 2026 và bình quân cả giai đoạn là 13-14%.

Tỷ lệ này giao cho Bắc Ninh lần lượt là 12,5-13 và 10%; Quảng Ninh là 13% và 11-12%; Ninh Bình là 11-12% và 10,5-11%; Hưng Yên là 11-12% và 10-11%. Trong khi đó, Hà Nội được giao mục tiêu GRDP 2026 là 10-10,5% và 10,5-11% cho cả giai đoạn; TPHCM được giao 10% cho cả 2 mục tiêu.

Điều này cho thấy một tư duy mới trong quản trị quốc gia. Thực tế chứng minh tăng trưởng chung của cả nước phải đến từ từng địa phương, từng thành phố cụ thể. Sau quá trình sáp nhập, tái cấu trúc tại các địa phương, các không gian tăng trưởng mới đã được hình thành với khả năng liên kết tốt hơn để biến những tiềm năng thành kết quả tăng trưởng về mặt kinh tế, tiến bộ về mặt xã hội, cải thiện về mặt môi trường. Đây là thời điểm chúng ta hiện thực hóa, khai thác lợi thế từ các không gian tăng trưởng mới, năng lực kết nối mới giữa các địa phương trong cả nước.

Việc giao chỉ tiêu cụ thể giúp cá thể hóa trách nhiệm đến từng nơi, từng cấp lãnh đạo, sở ngành, thậm chí đến cấp xã, phường. Điều này giúp nâng cao trách nhiệm giải trình và cải thiện hiệu quả quản trị. GDP vẫn là một thước đo quan trọng để đánh giá năng lực điều hành của địa phương, vì để tăng trưởng, địa phương phải cải thiện môi trường đầu tư, thu hút đầu tư tư nhân, giải ngân vốn đầu tư công, thúc đẩy xuất nhập khẩu và hỗ trợ doanh nghiệp.

Đồng thời, việc này đi kèm với phân cấp mạnh mẽ với tinh thần "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm". Qua đó, tạo động lực cạnh tranh giữa các địa phương trong thu hút đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh, chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ doanh nghiệp và người dân.

Đối với những đô thị lớn đầu tàu của nền kinh tế như TPHCM, Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh… rõ ràng là không thể tiếp tục dựa vào các lợi thế cũ như đất đai hay lao động giá rẻ. Khi những lợi thế về nguồn lực truyền thống chạm ngưỡng giới hạn, các địa phương bắt buộc phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới – sáng tạo, năng suất và tri thức. Điều này đòi hỏi đầu tư mạnh vào nguồn vốn con người, vào tri thức vì đây là nền tảng cho đổi mới sáng tạo. Áp lực đến từ việc chạm ngưỡng những giới hạn về nguồn lực truyền thống sẽ buộc các đô thị lớn phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng nhanh hơn.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng GDP hay GRDP không phải là tất cả. Sau tất cả, tăng trưởng GDP hay GRDP đều phải đảm bảo rằng chất lượng sống của người dân thực sự tốt hơn. Người dân sẽ phải thấy hạnh phúc hơn và được hưởng lợi công bằng từ tăng trưởng. Trước áp lực tăng trưởng, có một số lo ngại về việc các địa phương sẽ chạy đua số lượng mà bỏ qua chất lượng. Do đó, cần xây dựng hệ thống KPI (chỉ số đánh giá) toàn diện, không chỉ dựa vào GRDP.

Bên cạnh số liệu tăng trưởng còn có các chỉ tiêu khác như môi trường đầu tư, kinh doanh, sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, nợ công, lạm phát, khả năng tiếp cận tới và chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản, chất lượng phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ công và đối với hoạt động điều hành của các cơ quan công quyền. Như vậy, con số GRDP chỉ là một yếu tố của bộ chỉ số KPI đánh giá về chất lượng phát triển của một nền kinh tế của một địa phương nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Chất lượng của tăng trưởng mới là điều quyết định, là mục tiêu cao hơn.

Khi được trao thêm thẩm quyền và thí điểm chính sách trong các lĩnh vực đầu tư, quy hoạch, ngân sách, đất đai, các địa phương sẽ có khả năng huy động và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Những cơ chế này giống như "nới rộng chiếc áo thể chế", giúp các đô thị lớn phát huy tối đa tiềm năng. Nếu thành công, các mô hình này có thể được nhân rộng ra toàn quốc. Những lợi ích từ việc giao mục tiêu tăng trưởng GRDP, gắn với việc phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hơn, triệt để, toàn diện hơn sẽ mang lại những lợi ích lớn khác về cải cách thể chế, về chất lượng quản trị công, quản trị quốc gia.

Để khuyến khích sự năng động, sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm của các lãnh đạo địa phương, cần xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát rõ ràng. Trong đó quy định cụ thể về phạm vi thử nghiệm, cơ chế giám sát, điều kiện thực hiện, cơ chế miễn trừ trách nhiệm trong một số trường hợp. Như vậy, khi cán bộ địa phương thực hiện một giải pháp chưa có tiền lệ thì sẽ được pháp luật bảo vệ ra sao, dưới sự giám sát thế nào, quá trình thử nghiệm kéo dài bao lâu, được miễn trừ trách nhiệm khi thực hiện các phương án thử nghiệm đã được phê duyệt với những điều kiện nhất định.

Nếu cán bộ hành động vì lợi ích chung, minh bạch, đúng quy trình đã đăng ký dưới sự giám sát chặt chẽ của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp…, đã cố gắng hết sức với tinh thần liêm chính, chí công, vô tư, không vụ lợi cá nhân, nhưng thất bại, thì họ cần được bảo vệ. Điều này sẽ khuyến khích đổi mới và sáng tạo của lãnh đạo, cán bộ các địa phương. Việc thực hiện các "đột phá" trong quá trình phát triển kinh tế phải đi kèm trách nhiệm giải trình cao, sự giám sát chặt chẽ để tránh các quyết định tùy tiện hoặc thiếu tính toán.

Với bối cảnh kinh tế hội nhập và những thách thức trong giai đoạn mới, một tư duy quản trị quốc gia mới cũng đang được hình thành với tinh thần khuyến khích đổi mới, sáng tạo, dám dấn thân, dám mạo hiểm với tinh thần vì lợi ích chung của cả dân tộc, của cả nền kinh tế để thực hiện hoài bão, khát vọng với tầm nhìn 100 năm hướng tới kỷ niệm thành lập nước (1945-2045).

Tác giả: TS. Lê Duy Bình là Giám đốc Economica Việt Nam. Ông được biết đến là chuyên gia kinh tế - tài chính thường xuyên có các nghiên cứu chuyên sâu về chuyển biến của nền kinh tế trong và ngoài nước, các động lực tăng trưởng, hiệu quả của các chính sách tài khóa - tiền tệ, thu hút đầu tư, thương mại, kinh tế số, kinh tế xanh, cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp và quản trị công. Ông cũng đóng góp nhiều kiến giải cho Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa, Luật Lao động, Luật Thủ đô.

Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!