Ý tưởng biến 900.000 lao động ở nước ngoài thành "vốn nhân lực"
(Dân trí) - Đại biểu Quốc hội đề nghị công nhận kỹ năng, kết nối việc làm và thu hút lao động trở về, thay vì chỉ coi hoạt động đưa người ra nước ngoài là nguồn kiều hối.
Tại tổ thảo luận ngày 5/8 ở Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, nhiều đại biểu đề nghị thay đổi cách tiếp cận, coi đây là một bộ phận của chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Ngọc Sơn dẫn số liệu đến cuối năm 2025, gần 900.000 lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài, chủ yếu tại Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc, mang về khoảng 6-7 tỷ USD kiều hối mỗi năm.
Tuy nhiên, theo ông, giá trị lao động tạo ra có sự chênh lệch lớn giữa các thị trường. Năm 2025, mức lương bình quân tại Nhật Bản và Đài Loan khoảng 1.300 USD mỗi tháng, Hàn Quốc khoảng 1.600 USD, trong khi tại Đức và Đan Mạch đạt 2.900-4.000 USD.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, đại biểu hoạt động chuyên trách tại Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Ảnh: QH),
Tăng giá trị thay vì tăng số người xuất cảnh
Từ chênh lệch thu nhập trên, ông Sơn cho rằng nếu nâng được trình độ và chuyển sang những thị trường có giá trị cao hơn, thu nhập của người lao động có thể tăng gấp 2-3 lần mà không cần gia tăng số người ra nước ngoài làm việc.
“Đây chính là dư địa tăng trưởng thực chất - tăng giá trị trên mỗi lao động, chứ không tăng quy mô xuất cảnh”, ông cho rằng hướng đi này còn góp phần giảm áp lực rút lao động trẻ khỏi thị trường trong nước, nhất là tại những địa phương có các khu công nghiệp đang mở rộng.
Để biến gần 900.000 lao động ở nước ngoài thành "vốn nhân lực", đại biểu đề nghị thiết kế những khung chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, ngoại ngữ và tín dụng ưu đãi, đồng thời ưu tiên người lao động thuộc hộ nghèo, vùng dân tộc thiểu số.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Đặng Ngọc Huy cũng cho rằng việc đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài không nên chỉ được nhìn nhận như một chính sách giải quyết việc làm. Trong bối cảnh già hóa dân số đang diễn ra ở nhiều quốc gia, thiếu hụt lao động có kỹ năng, cạnh tranh quốc tế ngày càng dựa vào chất lượng nguồn nhân lực thay vì lao động giá rẻ.
Theo ông, Nhà nước cần xác định hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là một bộ phận của chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia và quá trình chủ động tham gia thị trường lao động quốc tế. Nhà nước cần khuyến khích phát triển nhóm lao động có kỹ năng, lao động chất lượng cao và có cơ chế sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sau khi họ hoàn thành hợp đồng trở về.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Đặng Ngọc Huy (Ảnh: QH).
Phó Bí thư Thường trực tỉnh Quảng Trị Trần Vũ Khiêm đồng tình cần có chính sách đặc thù nhằm bảo vệ, thu hút và phát huy nguồn nhân lực Việt ở nước ngoài. Ông nhận xét, dự thảo luật đã bổ sung chính sách ưu tiên đưa người có trình độ, kỹ năng ra nước ngoài và hỗ trợ kết nối việc làm khi họ trở về, song quy định mới dừng ở chủ trương, chưa có công cụ triển khai cụ thể.
Theo ông Khiêm, người lao động có kỹ năng, năng lực ngoại ngữ khi trở về vẫn chưa có cơ chế ưu tiên tuyển dụng, tạo điều kiện làm việc tại các dự án, doanh nghiệp trong nước hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chính sách hỗ trợ khởi nghiệp cho nhóm này cũng chưa được quy định rõ.
Ông đề nghị giao Chính phủ xây dựng đề án thu hút, sử dụng nguồn nhân lực là người Việt Nam từng làm việc ở nước ngoài. Qua quá trình làm việc, nhiều người đã tích lũy kiến thức, kỹ năng, ngoại ngữ và tác phong chuyên nghiệp. Nếu có cơ chế khai thác phù hợp, đây sẽ là nguồn nhân lực chất lượng phục vụ phát triển đất nước.

Đại biểu Trần Vũ Khiêm, Phó Bí thư thường trực tỉnh Quảng Trị (Ảnh: Hằng Nguyễn).
Bảo vệ người lao động trong toàn bộ hành trình
Các đại biểu cho rằng chính sách phát triển nguồn nhân lực phải đi cùng cơ chế bảo vệ người lao động từ khi tuyển chọn, đào tạo, làm việc ở nước ngoài đến khi kết thúc hợp đồng trở về.
Dự thảo luật sửa đổi lần này bỏ thủ tục đăng ký chuẩn bị nguồn lao động, cho phép doanh nghiệp chủ động thực hiện và chỉ phải thông báo đến UBND cấp xã trước ba ngày. Ông Sơn ủng hộ hướng thay đổi này vì quy định như vậy giúp rút ngắn thời gian đáp ứng đơn hàng, giảm chi phí tuân thủ và tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, ông lưu ý chuẩn bị nguồn cũng là khâu dễ phát sinh "cò mồi", thu phí trước trái phép và hứa hẹn sai sự thật, đặc biệt tại nông thôn, miền núi, nơi nhiều gia đình phải vay tiền để đi làm việc ở nước ngoài. Nếu bỏ tiền kiểm mà khâu hậu kiểm không đủ mạnh, rủi ro có thể dồn về phía người lao động và gia đình.
Đồng quan điểm, ông Khiêm đề nghị xây dựng tiêu chí cụ thể để kiểm tra doanh nghiệp theo mức độ rủi ro. Nếu thiếu tiêu chí, việc hậu kiểm có thể dẫn đến kiểm tra tràn lan, ảnh hưởng doanh nghiệp làm ăn chân chính hoặc bỏ sót đơn vị có dấu hiệu vi phạm.
Đại biểu cũng đặt vấn đề, luật cần xác định những tiêu chuẩn cơ bản đối với nhân viên nghiệp vụ của doanh nghiệp, như trình độ cao đẳng, đại học, chứng chỉ chuyên môn và năng lực ngoại ngữ phù hợp. Trên cơ sở đó, Chính phủ quy định chi tiết các nội dung để bảo đảm linh hoạt khi thực hiện.
Ông Đặng Ngọc Huy đề nghị quản lý doanh nghiệp dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật, chất lượng dịch vụ và hiệu quả bảo vệ người lao động, thay vì quá chú trọng những điều kiện đầu vào mang tính hành chính.
“Doanh nghiệp làm tốt cần được tạo điều kiện phát triển, doanh nghiệp vi phạm phải bị xử lý nghiêm và bị loại khỏi thị trường. Đó mới là quản trị hiện đại”, ông Huy nói.
Giám đốc Công an tỉnh Quảng Trị Nguyễn Thanh Liêm đề cập nguy cơ lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để lừa đảo, thậm chí mua bán người. Một số đối tượng có thể thu tiền, đưa người lao động đến địa bàn khác hoặc chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác để trục lợi.
Ông đề nghị xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ về doanh nghiệp, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này, giúp cơ quan chức năng và người dân kiểm tra tư cách pháp lý của các chi nhánh, địa điểm tuyển dụng. Doanh nghiệp cũng cần thiết lập đầu mối liên lạc với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trước khi xảy ra sự cố, đồng thời cập nhật thường xuyên diễn biến các vụ việc cho đến khi quyền lợi của người lao động được giải quyết.





