Nguồn ethanol cho xăng E10: Gỡ khó của nhà máy, mở đường tự chủ nguồn cung
(Dân trí) - Nguồn ethanol trong nước mới đáp ứng khoảng 21-27% tổng nguồn phục vụ phối trộn xăng sinh học. Muốn mở rộng xăng E10, bài toán nâng năng lực sản xuất trong nước trở nên cấp thiết.
Trong bối cảnh Bộ Công Thương thúc đẩy lộ trình phát triển xăng sinh học E10, bài toán bảo đảm nguồn cung ethanol (E100) đang trở thành một trong những vấn đề then chốt.
Mặc dù nguồn cung hiện vẫn đáp ứng nhu cầu phối trộn, song ngành sản xuất ethanol trong nước vẫn đối mặt với nhiều khó khăn về đầu ra, vốn, nguyên liệu, công nghệ...
Mới đây, đoàn công tác của Bộ Công Thương do Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân dẫn đầu đã khảo sát các nhà máy sản xuất ethanol tại khu vực miền Trung nhằm đánh giá năng lực sản xuất, khả năng đáp ứng nhu cầu phối trộn xăng sinh học E10, đồng thời rà soát những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp để hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ.
Nguồn ethanol mua trong nước chỉ chiếm khoảng 21-27%
Báo cáo của Tổ công tác triển khai Thông tư 50/2025 của Bộ Công Thương đến đầu tháng 7 cho biết, hiện cả nước có 4 nhà máy sản xuất ethanol đang hoạt động, song chỉ 3 nhà máy sản xuất ethanol (E100) phục vụ phối trộn xăng sinh học E5, E10, gồm Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất, Nhà máy cồn Quảng Nam và Nhà máy cồn Đồng Nai, với tổng công suất thiết kế khoảng 830m3/ngày, tương đương gần 24.900m3/tháng và khoảng 277.000m3/năm.
Trong đó, Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất có quy mô lớn nhất với công suất thiết kế 330m3/ngày, tiếp đến là Nhà máy cồn Quảng Nam 300m3/ngày và Nhà máy cồn Đồng Nai 200m3/ngày. Riêng trong tháng 6, ba nhà máy sản xuất khoảng 20.875m3 ethanol, đạt gần 84% công suất thiết kế theo tháng.
Dù năng lực sản xuất trong nước từng bước được cải thiện, nguồn ethanol phục vụ pha chế xăng sinh học vẫn chủ yếu dựa vào nhập khẩu. Theo báo cáo của Tổ công tác Bộ Công Thương đến đầu tháng 7, trong tháng 6, tổng nguồn E100 phục vụ phối trộn đạt khoảng 121.900m3, trong đó ethanol nhập khẩu chiếm hơn 73% tổng nguồn cung. Sang tháng 7, tỷ trọng này tiếp tục tăng lên gần 79%, trong khi nguồn mua trong nước chỉ chiếm khoảng 21-27%.
Chia sẻ với phóng viên báo Dân trí, đại diện một nhà máy sản xuất ethanol cho biết hiện nhà máy vận hành khoảng 60% công suất, tương đương sản lượng khoảng 5.000m3 ethanol mỗi tháng.
Theo doanh nghiệp, khó khăn lớn nhất hiện nay là giá nguyên liệu đầu vào và giá bán sản phẩm đều phụ thuộc nhiều vào thị trường, trong khi phần lớn nguyên liệu vẫn phải nhập khẩu. Giá nguyên liệu và giá năng lượng biến động liên tục khiến doanh nghiệp khó ký kết các hợp đồng mua bán dài hạn.

Nhà máy nhiên liệu sinh học Dung Quất sẽ chuyển đổi nguyên liệu sản xuất từ sắn sang ngô, tiếp tục nâng công suất vận hành bình quân lên 70-80% trong quý III (Ảnh: BSR).
"Nếu giá nguyên liệu hoặc giá điện tăng thì giá thành sản xuất ethanol cũng tăng theo. Trong khi đó, khi giá ethanol nhập khẩu thấp hơn, các doanh nghiệp đầu mối sẽ ưu tiên mua hàng nhập khẩu, khiến sản phẩm trong nước khó cạnh tranh", vị này chia sẻ.
Doanh nghiệp cho biết chi phí nguyên liệu hiện chiếm khoảng 80% giá thành sản xuất ethanol, nên mọi biến động của thị trường nguyên liệu đều tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất. Về công nghệ, dây chuyền vẫn đáp ứng yêu cầu vận hành, song sau nhiều năm hoạt động, nhiều thiết bị đã xuống cấp. Vì vậy, nhà máy hiện chỉ duy trì sản xuất ở mức phù hợp với tình trạng thiết bị, chưa thể nâng công suất tối đa.
Đại diện doanh nghiệp cũng cho rằng lộ trình triển khai xăng E10 mới bắt đầu trong thời gian ngắn, do đó cần thêm thời gian để đánh giá đầy đủ tác động tới thị trường cũng như hoạt động sản xuất của các nhà máy ethanol.
Theo đánh giá của Tổ công tác Thông tư 50/2025, mặc dù nguồn ethanol hiện vẫn đáp ứng nhu cầu phối trộn xăng sinh học, việc phụ thuộc lớn vào nguồn nhập khẩu tiềm ẩn nhiều rủi ro về giá cả, tỷ giá, chi phí logistics cũng như biến động của thị trường quốc tế.
Hiện nay, các nhà máy sản xuất ethanol cũng gặp nhiều khó khăn nội tại. Chẳng hạn, Nhà máy Cồn Quảng Nam phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên liệu ngô nhập khẩu, thiết bị đã cũ và thiếu vốn đầu tư.
Nhà máy Cồn Đồng Nai gặp khó trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất do các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu chủ yếu ký hợp đồng ngắn hạn; trong khi Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất chịu áp lực tài chính, thiếu vùng nguyên liệu ổn định, còn vướng hệ thống xử lý nước thải và phải cạnh tranh với ethanol nhập khẩu giá thấp.
Nhà máy ethanol khó tăng công suất vì thiếu hợp đồng dài hạn
Ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam cũng nhận định nút thắt lớn nhất của các nhà máy ethanol hiện nay không nằm ở vốn mà ở đầu ra.
"Dù chính sách phát triển xăng sinh học đã được ban hành, thời gian triển khai mới khoảng hai tháng nên thị trường chưa vận hành ổn định. Đặc biệt, các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu chưa ký hợp đồng mua bán dài hạn với các nhà máy ethanol mà chủ yếu đấu thầu, ký theo từng tháng", ông nói.
Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu Sinh học Việt Nam cho rằng điều này khiến các nhà máy không thể xây dựng kế hoạch sản xuất, chủ động thu mua nguyên liệu hay tính toán đầu tư dài hạn.
"Nếu không biết tháng tới có bán được hàng hay không thì doanh nghiệp rất khó chuẩn bị nguyên liệu và tổ chức sản xuất", ông nói. Theo ông, khái niệm "bao tiêu" thực chất là việc thiết lập các hợp đồng dài hạn với trách nhiệm và sản lượng được cam kết rõ ràng giữa hai bên.

Nhân viên đổ xăng dầu tại một cửa hàng ở Hà Nội (Ảnh: Tiến Tuấn).
Về nguồn nguyên liệu, ông Tuấn cho rằng điều các nhà máy cần nhất vẫn là có kế hoạch đầu ra ổn định để chủ động xây dựng kế hoạch thu mua, thay vì lo ngại thiếu nguyên liệu.
Hiện ethanol nhập khẩu vẫn chiếm khoảng 75-80% tổng nguồn cung phục vụ phối trộn xăng sinh học, song ông nhận định đây là tình trạng mang tính giai đoạn và tỷ trọng sản xuất trong nước có thể tăng lên khoảng 30-35% trong vài tháng tới khi một số nhà máy khôi phục hoạt động, trong đó có Nhà máy ethanol Tùng Lâm và Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất nâng công suất.
Ông Tuấn cũng cho rằng việc nhập khẩu ethanol là bình thường khi nguồn cung trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, tương tự như việc Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một phần dầu thô và xăng dầu thành phẩm.
Xây dựng hệ sinh thái nhiên liệu sinh học để giảm phụ thuộc nhập khẩu
Để phát triển ngành ethanol trong nước, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam kiến nghị ưu tiên hai giải pháp. Thứ nhất, các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu cần ký hợp đồng mua bán dài hạn với các nhà máy ethanol để doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất và nguyên liệu.
"Thứ hai, cần hạn chế hoặc dừng xuất khẩu sắn lát khô theo định hướng nâng cao giá trị gia tăng của nông sản, qua đó khuyến khích chế biến sâu trong nước, vừa tạo đầu ra ổn định cho người trồng sắn, vừa bảo đảm nguồn nguyên liệu cho các nhà máy ethanol", ông nói.
Để các doanh nghiệp sản xuất ethanol có được những hợp đồng dài hạn và đối tác ổn định hơn, ông Đặng Tất Thành, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công cho biết, các bài toán về nguồn cung ethanol đã được tính toán ngay từ quá trình xây dựng và ban hành Thông tư 50.
Theo ông, việc xây dựng chính sách luôn dựa trên các đánh giá về nhu cầu trước mắt, trung hạn và dài hạn, đồng thời phải phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Trong ngắn hạn, Việt Nam vẫn sẽ kết hợp hài hòa giữa nguồn ethanol sản xuất trong nước và nguồn nhập khẩu để bảo đảm nhu cầu phối trộn xăng sinh học.

Từ ngày 1/6, xăng E10 chính thức được sử dụng trên toàn quốc thay thế cho xăng khoáng RON 95 (Ảnh: Nam Anh).
"Tuy nhiên, về lâu dài, mục tiêu là nâng cao năng lực sản xuất trong nước thông qua tái khởi động các nhà máy hiện có, đầu tư mở rộng công suất, xây dựng thêm nhà máy mới, hướng tới nâng tỷ lệ đáp ứng của nguồn cung trong nước lên khoảng 50-70%", ông nói.
Cùng với việc mở rộng năng lực sản xuất, đại diện Bộ Công Thương cho rằng cần phát triển các vùng nguyên liệu ổn định và đổi mới công nghệ sản xuất ethanol. Việc đa dạng hóa nguồn nguyên liệu, tận dụng phụ phẩm và các nguyên liệu khác để sản xuất ethanol sẽ góp phần giảm áp lực cạnh tranh về nguyên liệu, đồng thời tạo nguồn cung ổn định phục vụ pha chế, phối trộn xăng sinh học.
Ông Thành cũng nhấn mạnh, một trong những yếu tố quan trọng là duy trì lộ trình phát triển xăng sinh học một cách ổn định, nhất quán để doanh nghiệp yên tâm đầu tư. Song song với đó, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp.
"Để phát triển bền vững, cần xây dựng hệ sinh thái nhiên liệu sinh học đồng bộ, có sự tham gia và liên kết chặt chẽ giữa các bên, từ vùng nguyên liệu, sản xuất đến tiêu thụ, qua đó tạo ra sản phẩm có giá trị và được người tiêu dùng tin tưởng sử dụng lâu dài", ông Thành nói.










