Khoa học về giấc ngủ áp dụng vào cuộc sống hàng ngày

Dân trí Giấc ngủ là nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống thường nhật của mọi người. Khoa học về giấc ngủ giúp ta có những hiểu biết cần thiết để áp dụng vào cuộc sống hằng ngày.
>>Khoa học về giấc ngủ: hiện tại và tương lai

Cần biết tự chăm lo cho giấc ngủ.
Cần biết tự chăm lo cho giấc ngủ.

Ba sự kiện đáng chú ý

1. Đầu thập niên 80, một thực nghiệm, được lên sóng truyền hình, đã gây nhiều tiếng vang ở Pháp và Bỉ. Hai «tài xế» trẻ, 25 và 35 tuổi, tình nguyện, được trang bị để ghi đồ thị giấc ngủ, thay phiên nhau lái xe từ Bruxelles tới Nice (1400 cây số, hành trình khoảng 15 giờ trong đó có 12 giờ lái xe) làm như thể là họ đi tới nơi nghỉ hè, họ tuân thủ những khuyên nhủ về thận trọng (ngừng mỗi 200 cây số để nghỉ ngơi, không uống rượu trong suốt hành trình...). Lượt đi, họ khởi hành buổi sáng và lượt về, cuối buổi chiều (cũng y như những người nghỉ hè, chỉ đi về sau khi tận hưởng ngày cuối cùng...). Xe họ gắn đầy camera, đi theo họ là đoàn kỷ thuật rửa phim tại chỗ ( lúc ấy chưa có phim số như hiện thời) và nhất là một phòng thí nghiệm về giấc ngủ lưu động với bác sĩ chuyên môn Tất cả được tài trợ bởi Bộ Giao thông vận tải Bỉ và Pháp, các bảo hiểm sức khoẻ và xã hội...

Kết quả, với bằng chứng khoa học minh bạch: vào khoảng 12-14 giờ trưa và sau 22 giờ đêm, trong lúc lái xe, mắt vẫn mở nhưng có những lúc tài xế ngủ gật vài giây. Với vận tốc trung bình trên đường cao tốc 120 cây số /giờ, trong hai hay ba giây, xe chạy một khoảng đường trên dưới 60-90 mét, đủ để tông vào xe trước hay mất lái và rời xa lộ, gây tai nạn chết người. Trong thực nghiệm này không có tai nạn vì tất cả đã được cẩn thận tổ chức trước (có xe "dẫn đường hay dọn đường" chẳng hạn).

Kết quả nói trên đã được dùng rộng rãi để cảnh báo những người phải lái xe đường dài khi đi nghỉ hè hay khi đi xa.

2. Với sự phát triển của khoa học về giấc ngủ, cuối thập niên 80, một số chuyên viên giấc ngủ đưa giả thuyết là nhiều tai nạn xe cộ trên đường cao tốc gây tổn thương sinh mạng thường xảy ra sau nửa đêm - lúc mà nhu cầu ngủ rất cao - và nguyên nhân là tài xế ngủ gật. Thật vậy, với lượng hàng hóa phải chuyển từ nước này sang nước khác bằng các xe vận tải càng ngày càng gia tăng, các cuộc hành trình xuyên quốc gia của các xe tải sinh hoạt bất kể ngày đêm. Cơ quan trách nhiệm về an ninh vận tải đường bộ tiến hành thống kê và kết quả đã xác nhận giả thuyết trên : khoảng 50% tai nạn có thương vong là do người lái xe ngủ gật lúc gần sáng. Từ đó tài xế xe tải đều được kiểm soát gắt gao, phải tôn trọng thời gian làm việc tối đa... các xe tải phải có trang bị, ngoài hộp đen, máy ghi thời gian chạy và nghỉ của tài xế, một số xe còn có máy ghi hình. Các tài xế xe lữa thì cứ mỗi phút thì phải nhấn bàn đạp an toàn nếu không thì hệ thống báo động sẽ reng to lên, đánh thức bác tài...

3. Dân nước Bỉ, cũng như dân Pháp là những người tiêu thụ rất nhiều thuốc ngủ và thuốc an thần, lý do chính là mất ngủ (11% dân số nói chung dùng thường xuyên, riêng cho thành phần phụ nữ từ 60- 69 tuổi, con số này lên đến 29%).

Thế nhưng tất cả những nghiên cứu đều đi đến một kết luận chung : đại đa số thuốc ngủ chỉ cho phép ta ngủ giai đoạn II tức là ngủ nông. Giai đoạn này không giúp ta khoẻ khoắn hôm sau. Người ngủ được trấn an vì họ đã "ngủ" suốt đêm nhưng về lâu về dài họ sẽ tự nhận thấy "sao quái lạ, ta đã ngủ suốt đêm, thuốc rất tốt vì nó giúp ta chìm vào giấc ngủ tức thời nhưng hôm sau ta vẫn mệt" .

Dĩ nhiên, ngủ nông cần phải được thiết lập để đi vào ngủ sâu và ngủ mơ, đó là giai đoạn chuyển tiếp cần thiết nhưng một người mất ngủ thật sự thì có thể cũng mất khả năng ngủ sâu, thuốc ngủ không giúp được là ở chỗ ấy. Chính vì vậy nên thuốc ngủ không là cách trị duy nhất cho chứng mất ngủ kinh niên.

Vài kiến thức thông thường về ba bệnh của giấc ngủ.

Ngủ nhiều và ngừng thở lúc ngủ

Xin đừng nói "Ăn được ngủ được là tiên". Ăn khỏe sẽ béo phì. Thừa cân là một bệnh kéo theo nhiều nguy cơ. Ngủ nhiều cũng là một bệnh. Người ngủ nhiều không hẳn là khỏe khoắn ban ngày và khó sinh sống trong xã hội, đi làm hay đi học bình thường - vì cứ gật gờ ngủ - . Họ gây nhiều tai nạn, tăng khả năng mắc bệnh tim mạch, tổn thọ và ít nhất là mất giá trị sống.

Một nghiên cứu tiến hành cuối những năm 1980 ở Liège cho thấy là những người ngủ nhiều - có khi đến 16 giờ mỗi ngày - tìm đủ mọi cách để sống thích nghi với nhu cầu ngủ của mình, thậm chí bỏ học, bỏ làm, không lập gia đì̀nh, nghỉ hưu sớm... đ̉ể có thể ngủ mỗi ngày, chứ không tự định nghĩa mình như một người bệnh và đi khám bác sĩ. Họ, cũng như xã hội thời đó, quan niệm rằng "có người khổ sở vì không ngủ được, mình ngủ như thế thì có phúc lắm rồi". Thế là họ ngủ ban đêm, dĩ nhiên, đồng thời cũng ngủ khi xem TV, ngủ trong lớp học, trong xưỡng máy, lúc lái xe phải ngừng ở đèn đỏ, ngủ trong phòng họp... tức là ở mọi nơi và mọi lúc.

Ghi đồ thị giấc ngủ của những người này ban đêm mới thấy rằng sở dĩ họ cần ngủ nhiều như thế vì họ bị chứng ngừng thở lúc ngủ: ban đêm họ cứ phải "thức" dậy, tức là trở lên giai đoạn I của giấc ngủ, khoảng 6-7 phút một lần, để thở. Thế nên giấc ngủ chỉ toàn là ngủ nông, không giúp tái tạo sức lực và hài hòa tâm lý cho hôm sau nên suốt ngày họ buồn ngủ, phải ngủ luôn nhưng có ngủ nhiều mấy đi nữa họ vẫn mệt.

Ở các nước Âu Mỹ, số người ngủ nhiều và ngừng thở lúc ngủ chiếm khoảng 5% công nhân viên, tỉ lệ cho những người không đi làm chắc chắn là cao hơn.

Ở Việt Nam, thỉnh thoảng ̉ ta có dịp thấy, trong các buổi trưa hè, một người đàn ông (bệnh này phổ biến hơn ở nam giới), nằm ngủ trên võng, ngoài hiên, miệng há to, ngáy như sấm. Đấy là thí dụ tiêu biểu của chứng ngừng thở lúc ngủ. Một số nghiên cứu cho thấy là dân Á châu có nhiều khả năng mắc chứng bệnh này mà nguyên do chính là cấu trúc của xương hàm.

Bệnh ngủ nhiều và ngừng thở lúc ngủ dễ chẩn đoán. Đồ thị giấc ngủ cho thấy giấc ngủ bị gián đoạn, thiếu ngủ sâu và ngủ mơ, thiếu cung cấp không khí vào phổi khiến bệnh nhân phải “thức dậy” để thở – tất cả những lần thức dậy này, bệnh nhân không ý thức được vì không thức hẳn, chỉ “thức ở độ ngủ chập chờn”.

Tùy theo nguyên nhân của bệnh ngủ nhiều và ngừng thở, có ngáy hay không, mà cách đìều trị khác nhau: phẩu thuật nới rộng đường hô hấp, chỉnh răng để đường hô hấp rộng hơn, mỗ đ̉ể đưa hàm dưới ra phía trước hay dùng máy trợ thở đưa không kh́i dưới áp suất cao, trong đêm...

Không cha trị, người ngừng thở lúc ngủ làm mệt tim (vì thiếu không khí, tức là thiếu ô-xy, tim phải làm việc nhiều và nhanh hơn cho nhu cầu lọc máu), gây huyết áp cao, tổn thọ khoảng 10-15 năm. Hiện chứng ngừng thở lúc ngủ làm nặng thêm và khó trị hơn nhiều bệnh khác như tiểu đường hay trầ̀m cảm. Đó là chưa nói tới những tai nạn mà họ gây ra vì trạng thái cần ngủ suốt ngày.

Về mặt y tế và kinh tế, ngủ nhiều với ngừng thở lúc ngủ rất nguy hiểm cho cá nhân người bệnh và cho xã hội nên tất cả các chi phí để trị bệnh này được chính phủ và cơ quan bảo hiểm sức khỏe đài thọ hoàn toàn ở Âu Mỹ (cha bệnh cho họ rẻ hơn là để họ mất sức lao động, bị bệnh khác tốn kém hơn, thành gánh nặng cho xã hội hay gây tai nạn thiệt hại nhiều hơn cho người khác nữa).

Chứng mất ngủ.

Không ngủ được phức tạp hơn ta tưỡng: khó đi vào giấc ngủ, khó ngủ bình yên và ngủ lâu, dậy sớm quá... làm cho người bệnh mệt mỏi trong ngày.

Theo định nghĩa này, mất ngủ là một vấn đề của 24 giờ. Những rối loạn ban ngày là mệt mỏi, mất hăng hái, khó tập trung tư tưởng, hay quên...

Khi khó ngủ ban đêm nhưng không có vấn đề ban ngày thì không hẳn là mất ngủ, dù bệnh nhân than. Lúc đó chỉ là hiện tượng "gần giống như mất ngủ" (pseudo insomnie).

Thân thể ta sinh hoạt với những phương thức rất rõ ràng: h có "nợ" giấc ngủ là phải trả chứ không "khất" được. Không ngủ được ban đêm thì thân thể bị «hành hạ» ban ngày. Nếu ban ngày vẫn sinh hoạt bình thường thì có lẽ ta không bị chứng mất ngủ, chỉ là người ngủ ít thôi, chỉ cần 5-6 tiếng mỗi đêm là đ̉ủ nên thức dậy.

Người cao tuổi cũng thế: lớn tuổi, cơ thể sinh hoạt ít đi, không mệt nhiều nên nhu cầu ngủ thấp hơn. Trên 60 tuổi, ngủ 6 giờ mỗi ngày là đủ. Một số người tự cho là mất ngủ, trong trường hợp này không phải cha trị gì hết.

Đứng trước một bệnh nhân mất ngủ "thật", còn phải phân biệt những nguyên nhân của mất ngủ.

Một số chỉ vì đi ngủ không đúng lúc - đồng hồ nội tại của cơ thể họ "chênh" đối với lúc trời sáng hay trời tối và nhất là chênh với thời dụng biểu của xã hội – có người thức thật sớm buổi sáng nhưng tới chạng vạng là cần phải đi ngủ, có người chỉ thức dậy tr, và có khả năng sinh hoạt tới khuya. Thế nhưng trường học, xưỡng máy công tư sở... bó buộc giờ giấc duy nhất cho tất cả mọi người nên một số người không thích hợp được, có cảm tưỡng như thiếu ngủ. Ở̉ đây ta gọi là rối loạn chu kỳ thức - ngủ chứ không phải là mất ngủ. Trong trường hợp này, cần chấn chỉnh đồng hồ nội tại, dùng phương pháp trị bệnh bằng ánh sáng hay uống thuốc Melatonine.

(Trường hợp này cũng có thể gặp nơi những người phải làm theo ca hay làm ban đêm)

Có thể mất ngủ vì những lý do hoàn cảnh xã hội (mang tang người thân, ly dị chồng hay vợ, mất việc làm...). Trong những trường hợp này, mất ngủ vì lý do nhất thời, bệnh có thể cha bằng thuốc ngủ trong ba bốn tuần để cho biến cố gây mất ngủ từ từ "chìm lắng" và cá nhân người bệnh tự tìm lại được nếp sống trước đó, với khả năng ăn ngủ không cần thuốc.

Uống thuốc ngủ lâu ngày gây phụ thuộc vào thuốc, một số thuốc ngủ còn có thể kéo theo hậu quả không tốt (gây mất trí nhớ, dễ mang bệnh Alzheimer...).

Còn lại trường hợp mất ngủ kinh niên, kể ra thì không nhiều – khoảng 10-15% số người than mất ngủ tức là ít hơn 5% dân số theo thống kê dịch t - Với những bệnh nhân này bác sĩ sẽ cha trị tùy theo trường hợp, có khi liên kết các phương thức khác nhau, thuốc ngủ, thuốc trị trầm cảm (với những liều rất nhỏ, vài thuốc trị trầm cảm rất tốt cho giấc ngủ), có khi khuyên sửa đổi một vài sinh hoạt hay những phương thức «học lại cách ngủ» với một tâm lý gia (cấm ngủ trưa, cấm ngủ trên 5 giờ trong đêm rồi từ từ cho phép tăng thêm giờ ngủ).

Những mô tả trên cho thấy chữa trị chứng mất ngủ cần thời gian. Mỗi lần bác sĩ khám và hỏi bệnh phải cả giờ. Sau đ́ó phải ghi đồ thị giấc ngủ trong tối thiểu suốt 24 giờ đ̉ể chẩn đ́úng bệnh. Trị bệnh mất ngủ kinh niên phải ít nhất là một tháng, có khi phải ba bốn hay thậm chí sáu tháng... Nhưng so với kết quả thu hoạch được về giá trị sống, về khả năng học hành hay làm việc trở lại cho người bệnh, tất cả các phương thức đều "đáng công đáng của".

Chứng mất ngủ thường là lời than của khoảng 25-30% bệnh nhân ở các phòng khám bác sĩ gia đình ở châu Âu. Bác sĩ này đủ khả năng để hướng dẩn bệnh nhân và chỉ gửi những trường hợp mất ngủ kinh niên tới trung tâm giấc ngủ.

Chứng ngủ rũ

Chuyện của những người ngủ rũ là những chuyện rất buồn cười, nhưng thật sự là cười ra nước mắt.

Đó là chuyện của một người đi câu cá, cứ mỗi lần thấy cái phao của cần câu rung vì có cá cắn, ông ấy mừng vô cùng, mừng đến nổi ngủ ngay tức thì và ùm té xuống sông.

Chuyện thứ nhì, của một phụ nữ rất nồng hậu. Bà hay cười, nhưng mỗi lần bà cười to, cười nức nẻ vì hạnh phúc hay vì vui mừng gặp lại ai đ́ó là bà ngủ ngay không cưỡng được và sụp xuống đất trước sự kinh ngạc của mọi người.

Chuyện khác, một bé đang ở trường tiểu học, cứ mỗi lần bị giáo viên mắng hay quở phạt, bé sợ quá, gục xuống bàn ngủ, ngủ thật và ngủ mơ làm cho cô giáo càng giận dử vì ngở rằng bé vô lễ.

Thật vậy, trong cả ba trường hợp nói trên, các bệnh nhân ngủ rũ đột ngột ngủ khi bị xúc động mạnh và họ ngủ mơ (thông thường phải qua giai đoạn I ngủ chập chờn, giai đoạn II ngủ nông, giai đoạn III ngủ sâu rồi mới ngủ mơ).

Trong truyện Chí Phèo của Nam Cao, Thị Nở “vốn có một cái tật không sao chữa được, có lúc đột nhiên muốn ngủ, bất cứ ở đâu hay đang làm gì”. Dưới ánh sáng của khoa học về giấc ngủ, có thể Thị Nở mang chứng ngủ rũ.

Về số lượng, không có nhiều người bị chứng ngủ rũ, nhưng đây là một bệnh gây nhiều khó khăn xã hội cho bệnh nhân. Bệnh hiện không cha tuyệt gốc được, chỉ kiểm soát các triệu chứng. Nhưng đủ để trẻ (vì thông thường bệnh bắt đầu khoảng năm trẻ lên 10 tuổi) có thể sống bình thường và học hành đến nơi đến chốn. Ở Bỉ, thuốc trị bệnh này cũng hoàn toàn miễn phí và miễn phí suốt đời.

Làm thế nào chẩn đoán ra bệnh ? Khi thấy trẻ lúc nào cũng kêu mệt, ngủ nhiều, ngủ ở mọi nơi mọi lúc. Thỉnh thoảng còn kèm theo hiện tượng tê, mềm rũ tứ chi. Xin đừng vội kết luận là trẻ lười biếng, hay đóng kịch. Phải ghi đồ thị giấc ngủ mới chẩn bệnh được vì đồ thị giấc ngủ cho thấy là bệnh nhân trực tiếp đi vào ngủ mơ.

Ba bệnh vừa kể trên là công việc mỗi ngày của các trung tâm giấc ngủ. Ngoài ra còn rất nhiều bệnh khác như mộng du, cử động lộn xộn của chân lúc ngủ, nghiến răng, ác mộng, những vấn đề về giấc ngủ của hầu hết các bệnh khác, của con người nói chung ở các độ tuổi khác nhau (trẻ em, người cao tuổi, ở tuổi hồi xuân... ). Mới đầu, các nhà khoa học gọi giấc ngủ là một lục địa mới trong Y khoa. Hiện phải nói đó là cả một vũ trụ.

Nguyễn Huỳnh Mai
Liège, Bỉ

___________________________________________

*Mọi liên hệ về bài tin với chuyên mục Khoa học, xin gửi đến email: thaolam@dantri.com.vn

Tag :