DNews
Giáo dục

GS Nguyễn Thành Vinh và hành trình trở thành nhà khoa học hàng đầu tại Úc

(Dân trí) - Là nhà khoa học thành danh ở Úc, GS Nguyễn Thành Vinh cho rằng: Đóng góp cho quê hương có thể bằng nhiều hình thức, quan trọng dù đi đến đâu phải giữ sợi dây kết nối với quê hương.

Câu chuyện của GS Nguyễn Thành Vinh chia sẻ với phóng viên Dân trí diễn ra trong một thời điểm đặc biệt của quan hệ Việt Nam - Australia. Từ ngày 9/8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ thăm cấp Nhà nước tới Australia, với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nhân lực chất lượng cao là những lĩnh vực hợp tác được hai nước đặc biệt quan tâm.

Sau hơn hai thập niên kể từ ngày sang Australia bằng học bổng AusAID, hành trình từ một học sinh Việt Nam đến vị trí giáo sư, nhà khoa học của Nguyễn Thành Vinh cũng cho thấy một giá trị khác của quan hệ hai nước: Những trí thức được đào tạo trong môi trường quốc tế, trưởng thành về khoa học nhưng vẫn duy trì kết nối với Việt Nam.

Khi Việt Nam đang tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ, câu chuyện không chỉ còn là "người Việt thành công ở Australia", mà đặt ra một câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để nguồn lực trí thức người Việt ở nước ngoài có thể tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển của đất nước?

GS Nguyễn Thành Vinh và hành trình trở thành nhà khoa học hàng đầu tại Úc - 1

GS Nguyễn Thành Vinh cho rằng, đóng góp cho quê hương có nhiều cách khác nhau (Ảnh thiết kế: Hiệp Ngạc).

Nhiều người lầm tưởng tôi nhận học bổng từ show truyền hình

Sau thành công tại cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia năm 2000, Australia (Úc) là điểm đến anh lựa chọn. Bỏ qua nhiều quốc gia hấp dẫn cùng thời điểm, điều gì ở môi trường giáo dục Úc thuyết phục và thu hút anh?

- Khi ấy tôi mới 18 tuổi và suy nghĩ của một cậu trai mới lớn lúc ấy thực ra khá giản dị. Sau khi tham dự Đường lên đỉnh Olympia và Olympic Hóa học quốc tế năm 2000, tôi nhận ra, những gì mình biết chỉ là một phần rất nhỏ trong kho tàng tri thức của nhân loại.

Tôi muốn được bước ra ngoài môi trường quen thuộc, tiếp cận những phòng thí nghiệm hiện đại, những giáo trình tiên tiến và thử thách bản thân trong một nền văn hóa hoàn toàn mới.

GS Nguyễn Thành Vinh, sinh năm 1982, là cựu học sinh trường THPT chuyên Lam Sơn, Thanh Hóa; từng giành huy chương bạc Olympic Hóa học quốc tế năm 2000.

Anh là gương mặt quen thuộc với thế hệ 8X khi giành ngôi Á quân Đường lên đỉnh Olympia mùa đầu tiên, đồng thời thủ vai Nam trong phim "Phía trước là bầu trời".

Úc hấp dẫn tôi bởi nền giáo dục có chất lượng cao, môi trường đa văn hóa, cởi mở và khoảng cách địa lý tương đối gần Việt Nam.

Thời điểm đó, tôi nhận được học bổng Ausaid của Chính phủ Úc để theo học ngành Hóa công nghiệp tại Đại học New South Wales (UNSW), không phải học bổng của chương trình show truyền hình Đường lên đỉnh Olympia như đôi khi mọi người vẫn nhầm tưởng.

Thời bấy giờ, tôi chưa hình dung mình sẽ trở thành một nhà khoa học hay giáo sư đại học. Tôi chỉ muốn biết thế giới rộng lớn đến đâu và bản thân có thể đi được bao xa.

Nhìn lại, quyết định đến Úc tôi cho rằng, đấy không đơn thuần là lựa chọn một nơi để học lấy bằng mà là khởi đầu của một hành trình thay đổi tư duy và tìm kiếm con đường phù hợp nhất với bản thân.

GS Nguyễn Thành Vinh và hành trình trở thành nhà khoa học hàng đầu tại Úc - 2

Thành Vinh thời điểm tham dự show truyền hình "Đường lên đỉnh Olympia" và hình ảnh hiện nay (Ảnh thiết kế: Hiệp Ngạc).

Khi mới sang Úc, anh có từng gặp phải những rào cản hay “sốc văn hóa” về môi trường học thuật? Anh đã vượt qua điều đó ra sao để gặt hái thành công như hôm nay?

- Có, nhưng đối với tôi đó không phải là một cú sốc duy nhất, mà là hàng loạt những điều nhỏ mình phải học lại từ đầu: Sử dụng tiếng Anh trong đời sống và học thuật, giao tiếp trong một xã hội đa văn hóa; chủ động đặt câu hỏi với thầy cô giáo; làm việc nhóm và tự chịu trách nhiệm về cuộc sống và việc học tập của mình.

Ở Việt Nam, đặc biệt trong môi trường học sinh chuyên, tôi đã quen với việc cố gắng tìm ra đáp án đúng. Sang Úc, tôi dần hiểu rằng ở đại học, câu hỏi mình đặt ra đôi khi còn quan trọng hơn câu trả lời.

Cách tôi vượt qua là chấp nhận rằng, mình không cần phải hoàn hảo ngay lập tức. Tôi quan sát, chủ động trao đổi với bạn bè và thầy cô, tham gia nghiên cứu từ khi còn là sinh viên, đồng thời tập xem mỗi sai sót như một phần của quá trình học hỏi. Tất nhiên, phần nhiều của sự thành công trong học tập vẫn là từ khả năng tự học và tư duy tốt.

Sau này, trong nghiên cứu, tôi cũng trải qua những giai đoạn nhiều tháng liên tục không thu được kết quả mong muốn. Chính thói quen chia nhỏ mục tiêu, tìm kiếm phản biện từ đồng nghiệp, kiên trì thử lại và trân trọng những tiến bộ nhỏ đã giúp tôi đi tiếp.

Sau hơn 20 năm, Nguyễn Thành Vinh trở thành Giáo sư bậc cao nhất tại Đại học New South Wales - trường top 20 thế giới theo bảng xếp hạng QS 2026.

Tờ The Australian vinh danh anh trong danh sách những nhà nghiên cứu có ảnh hưởng nhất năm 2025 ở chuyên ngành Hóa học hữu cơ.

Trải qua hơn 20 năm gắn bó với giáo dục Úc, từ vai trò sinh viên đến Giáo sư bậc cao nhất tại UNSW, đâu là “triết lý giáo dục” lớn nhất mà anh đã học hỏi được từ quốc gia này?

- Triết lý lớn nhất mà tôi học được là: Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức, mà phải giúp một con người trở nên độc lập về tư duy và có trách nhiệm với những lựa chọn của bản thân.

Trong môi trường đại học Úc, sinh viên được trao nhiều quyền tự do: Tự lựa chọn môn học, cách tiếp cận vấn đề, hướng nghiên cứu và cả con đường nghề nghiệp. Nhưng tự do đó luôn đi cùng trách nhiệm. Sinh viên phải chịu trách nhiệm về lập luận, tiến độ và chất lượng công việc của mình.

Người thầy không nên tạo ra những học trò chỉ biết lặp lại ý tưởng của thầy, mà phải giúp họ đủ tự tin để đặt câu hỏi, phản biện và cuối cùng có thể đi xa hơn người hướng dẫn.

Quan điểm này ảnh hưởng rất lớn đến cách tôi giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu sinh. Tôi không xem việc một sinh viên thực hiện chính xác mọi chỉ dẫn là thành công lớn nhất. Thành công thực sự là khi người học dần không còn cần đến những chỉ dẫn ấy nữa. Họ có thể tự xác định vấn đề, xây dựng giả thuyết, thiết kế thí nghiệm, phân tích thất bại và bảo vệ kết luận của mình một cách trung thực.

Vì vậy, điều khiến tôi hạnh phúc nhất không phải là chức danh hay giải thưởng, mà là nhìn thấy một sinh viên ban đầu còn bỡ ngỡ trở thành một tiến sĩ tự tin, có tư duy độc lập và biết dùng kiến thức để tạo ra giá trị cho xã hội.

GS Nguyễn Thành Vinh và hành trình trở thành nhà khoa học hàng đầu tại Úc - 3

GS Nguyễn Thành Vinh trong buổi gặp mặt tại Đại học Bách khoa Hà Nội, bàn về việc hợp tác với các nhà khoa học từ nước ngoài trở về hồi tháng 2 vừa qua (Ảnh: Duy Thành, thiết kế: Hiệp Ngạc).

Không nên sao chép nguyên vẹn mô hình của Úc

Phương pháp tư duy và cách tổ chức nghiên cứu khoa học của nền giáo dục Úc định hình nên phong cách, tư duy làm khoa học hiện tại của anh ra sao?

- Môi trường ở Úc giúp tôi hình thành phong cách nghiên cứu tương đối cởi mở, thực dụng nhưng vẫn tôn trọng khoa học nền tảng.

Mỗi dự án cần bắt đầu từ một câu hỏi có ý nghĩa, không chỉ xuất phát từ mong muốn tạo ra thêm một công bố.

Úc cũng có truyền thống kết nối tương đối tốt giữa đại học, công nghiệp và cộng đồng. Vì thế, trong khi làm nghiên cứu cơ bản, tôi luôn cố gắng giữ “đôi mắt ứng dụng”.

Tôi thường ví, nghiên cứu cơ bản là bộ rễ, còn công nghệ và sản phẩm là hoa trái. Không thể chỉ chăm chút cho hoa trái mà để bộ rễ khô héo; nhưng nghiên cứu cơ bản cũng nên nhận thức được những nhu cầu thực tế mà nó có khả năng giải quyết.

Cách tiếp cận đó giúp nhóm của tôi vừa nghiên cứu các phản ứng và cấu trúc phân tử mới, vừa tìm kiếm ứng dụng trong vật liệu chức năng, dược phẩm, công nghệ y sinh và các quy trình hóa học bền vững.

GS Nguyễn Thành Vinh và hành trình trở thành nhà khoa học hàng đầu tại Úc - 4

Theo GS Nguyễn Thành Vinh, nghiên cứu cơ bản là bộ rễ (Thiết kế: Hiệp Ngạc).

Với kinh nghiệm tại môi trường hàng đầu thế giới, anh nhận thấy những bài học giáo dục và nghiên cứu nào từ Úc có thể áp dụng linh hoạt vào bối cảnh giáo dục và nghiên cứu hóa học tại Việt Nam hiện nay?

Việt Nam và Úc là hai quốc gia có điều kiện kinh tế, lịch sử và văn hóa khác nhau. Do đó, điều quan trọng là lựa chọn những nguyên tắc phù hợp và kết hợp với các thế mạnh sẵn có của Việt Nam như nền tảng kiến thức tốt, tinh thần hiếu học, sự chăm chỉ và khả năng thích ứng của sinh viên.

Bài học đầu tiên là cần trao quyền tự chủ thực chất hơn cho các trường đại học, nhóm nghiên cứu và nhà khoa học, nhưng phải đi kèm trách nhiệm giải trình, liêm chính và đánh giá minh bạch.

Không nên quản lý nghiên cứu chủ yếu bằng số lượng bài báo hoặc các thủ tục hành chính; cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, tính độc đáo, ảnh hưởng lâu dài và khả năng đào tạo con người.

Thứ hai, nghiên cứu khoa học cần chấp nhận rủi ro. Những khám phá quan trọng thường bắt đầu từ các câu hỏi chưa có đáp án và có khả năng thất bại cao. Cơ chế tài trợ vì thế cần đủ linh hoạt để các nhà khoa học theo đuổi những ý tưởng mới, thay vì chỉ lựa chọn những đề tài chắc chắn tạo ra kết quả ngắn hạn.

Riêng với hóa học thực nghiệm, Việt Nam cần đầu tư có trọng điểm vào các trung tâm thiết bị dùng chung, đi kèm đội ngũ kỹ thuật viên chuyên nghiệp và cơ chế bảo trì bền vững.

Không nhất thiết mỗi nhóm đều sở hữu mọi thiết bị, nhưng nhà khoa học phải có khả năng tiếp cận những công cụ phân tích hiện đại với thời gian và chi phí hợp lý.

Cuối cùng, sinh viên nên được tiếp cận nghiên cứu, doanh nghiệp và các vấn đề thực tế sớm hơn. Những mô hình đồng hướng dẫn, trao đổi ngắn hạn, học tập tích hợp công việc và phòng thí nghiệm chung giữa Việt Nam với Australia có thể mang lại hiệu quả lâu dài hơn việc chỉ gửi từng sinh viên ra nước ngoài học riêng lẻ.

GS Nguyễn Thành Vinh và hành trình trở thành nhà khoa học hàng đầu tại Úc - 5

GS Nguyễn Thành Vinh cho biết, anh dùng những điều đã học để mở đường cho thế hệ tiếp theo (Thiết kế: Hiệp Ngạc).

Đi đến đâu vẫn giữ sợi dây kết nối với quê hương

Anh đã và đang có những kế hoạch, dự án cụ thể nào góp phần đưa nền khoa học nước nhà vươn xa hơn trên bản đồ quốc tế?

- Trong nhiều năm qua, tôi vẫn duy trì việc tiếp nhận và hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu sinh và các nhà khoa học trẻ Việt Nam tại Úc.

Tuy nhiên, mục tiêu lâu dài của tôi không chỉ là giúp một số cá nhân ra nước ngoài học tập, mà là góp phần xây dựng những mối quan hệ hợp tác có tính thể chế và có khả năng tồn tại lâu dài.

Hiện nay, tôi đang hợp tác với một số nhà khoa học có nhiều tâm huyết tại Đại học Sư phạm Hà Nội, và Đại học Bách khoa Hà Nội trong các hoạt động đào tạo và nghiên cứu.

Một hướng hợp tác nghiên cứu cụ thể chúng tôi đang làm cùng nhau là phát triển các chất cảm quang hữu cơ thế hệ mới, hướng tới chuyển đổi năng lượng ánh sáng thành năng lượng hóa học, hóa học bền vững và chuyển hóa chất thải thành những sản phẩm có giá trị.

Chúng tôi cũng đang xây dựng các đề xuất hợp tác song phương, trao đổi nhà nghiên cứu, đồng hướng dẫn học viên và tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu.

Tôi đồng thời tham gia hỗ trợ tư vấn và định hướng cho một số phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu công nghệ cao đang được phát triển tại Đại học Quốc gia TPHCM, đặc biệt ở các nội dung liên quan đến y tế, hóa dược, phát triển phân tử hoạt tính, cơ sở vật chất nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.

Bên cạnh đó là các hoạt động đào tạo ngắn hạn và kết nối các nhà khoa học trẻ với mạng lưới quốc tế.

Trong bối cảnh quan hệ Việt Nam và Úc đã được nâng cấp lên tầm “Đối tác chiến lược toàn diện”, tôi cho rằng giáo dục, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần trở thành một trụ cột hợp tác với sản phẩm cụ thể.

Xa hơn, hai nước nên tiến tới các phòng thí nghiệm chung, chương trình đồng hướng dẫn và quỹ nghiên cứu song phương.

Người Việt Nam ở nước ngoài có thể đóng vai trò “người kết nối”, không chỉ chuyển giao kỹ thuật, mà còn chuyển giao văn hóa học thuật, tiêu chuẩn quốc tế và mở thêm những cánh cửa để các nhà khoa học trong nước tham gia bình đẳng vào cộng đồng khoa học toàn cầu.

GS Nguyễn Thành Vinh và hành trình trở thành nhà khoa học hàng đầu tại Úc - 6

Chia sẻ với phóng viên Dân trí tại buổi gặp mặt tại Đại học Bách khoa hồi tháng 2, GS Vinh cho biết, anh sẵn sàng trở về Việt Nam và hợp tác để thúc đẩy giáo dục trong nước (Ảnh: Duy Thành).

Nếu gửi một lời khuyên đến các bạn trẻ Việt Nam đang có ước mơ du học và mong muốn theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học đỉnh cao, anh sẽ nhắn nhủ điều gì?

- Điều đầu tiên tôi muốn nhắn nhủ là các bạn hãy hiểu rõ mình đi du học để làm gì. Du học không tự động tạo ra thành công và cũng không phải là một tấm vé để trở thành người “giỏi hơn” những người ở lại.

Giá trị lớn nhất của du học là cơ hội bước ra khỏi vùng an toàn, nhìn lại những điều mình từng cho là hiển nhiên, đồng thời học cách sống, làm việc với những con người có xuất phát điểm rất khác mình.

Các bạn cần chuẩn bị kiến thức, ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp, nhưng quan trọng không kém là sự khiêm tốn và khả năng thích nghi.

Đừng chỉ học trong giảng đường hoặc phòng thí nghiệm. Những mối quan hệ xã hội, trải nghiệm văn hóa, các cuộc trao đổi với bạn bè quốc tế và cách mình ứng xử khi gặp khó khăn đôi khi mang lại những bài học lâu dài hơn một môn học cụ thể.

Đối với người theo đuổi nghiên cứu, tôi thường nhấn mạnh ba phẩm chất: Liêm chính, độc lập và kiên định.

Liêm chính để không thỏa hiệp với sự sai trái trong khoa học; độc lập để dám xây dựng con đường của riêng mình; kiên định để tiếp tục con đường nghiên cứu khoa học rất nhiều chông gai, ngay sau khi thí nghiệm thất bại, bài báo bị từ chối hoặc đơn xin tài trợ không thành công.

Cuối cùng, các bạn không cần phải lựa chọn một cách cứng nhắc về hình thức xây dựng quê hương, giữa “ở lại nước ngoài” và “trở về Việt Nam”.

Trong thế giới ngày nay, đóng góp cho quê hương có thể được thực hiện bằng rất nhiều hình thức: Hướng dẫn sinh viên, mở mạng lưới hợp tác, chia sẻ cơ hội, phản biện chính sách, chuyển giao công nghệ hoặc xây dựng các dự án chung.

Điều quan trọng là dù đi đến đâu, mình vẫn giữ được sợi dây kết nối với quê hương và dùng những điều đã học được để mở thêm đường cho thế hệ tiếp theo.