Cần có lộ trình phù hợp để đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai ở trường
(Dân trí) - Để triển khai hiệu quả việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai ở trường, cần có sự triển khai đồng bộ giữa các nhóm nhiệm vụ, bao gồm xây dựng chính sách, phương pháp dạy và học, đội ngũ giáo viên…
Đó là nhận định của TS Nguyễn Thị Mai Hữu - Trưởng ban Quản lý đề án ngoại ngữ quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo - tại Hội thảo quốc tế về nghiên cứu và giảng dạy tiếng Anh lần thứ 17 với chủ đề "Định hình tương lai giảng dạy tiếng Anh trong kỷ nguyên số".
Đây là sự kiện do Trung tâm Đào tạo khu vực của SEAMEO tại Việt Nam (SEAMEO RETRAC) phối hợp Đại học Curtin (Australia) tổ chức tại TPHCM, vào các ngày 10 và 11/8.
Phối hợp đồng bộ nhiều nhóm nhiệm vụ
Đề cập mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, TS Nguyễn Thị Mai Hữu cho rằng trước hết cần hiểu đúng định hướng và cách thức triển khai trong bối cảnh hiện tại Việt Nam.
Theo bà, tiếng Anh hiện chưa phải là ngôn ngữ thứ hai được sử dụng trong cộng đồng tại Việt Nam.
Việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học được hiểu là sử dụng tiếng Anh thường xuyên và có hệ thống trong các bối cảnh giáo dục, bao gồm giảng dạy, tổ chức các hoạt động giáo dục, nghiên cứu, quản lý và giao tiếp.
Qua đó, việc sử dụng tiếng Anh hướng tới phát triển các năng lực chung và năng lực chuyên biệt của người học Việt Nam theo các chuẩn mực quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

TS Nguyễn Thị Mai Hữu, Trưởng ban Quản lý đề án ngoại ngữ quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo (Ảnh: Nguyễn Vy).
“Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là 100% hoạt động giảng dạy sẽ được thực hiện bằng tiếng Anh”, TS Mai Hữu nói.
Theo bà, mục tiêu đặt ra là từng bước xây dựng các trường dạy và học bằng tiếng Anh ở những mức độ khác nhau, phù hợp với điều kiện thực tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, theo TS Mai Hữu, lộ trình cần được triển khai cùng lúc theo 3 hướng.
Thứ nhất là cải thiện và nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh trong các trường học. Thứ hai là từng bước sử dụng tiếng Anh làm phương tiện giảng dạy trong nhà trường. Thứ ba là mở rộng việc sử dụng tiếng Anh như một ngôn ngữ giao tiếp và trong tài liệu, đồng thời sử dụng tiếng Anh trong phần lớn các hoạt động học thuật, bao gồm cả các hoạt động giáo dục bên ngoài lớp học.
Bên cạnh đó, TS Mai Hữu nhấn mạnh để sớm đạt được mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, cũng cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm nhiệm vụ, gồm xây dựng chính sách ở cấp Trung ương, địa phương và cơ sở giáo dục; xây dựng chương trình; phát triển tài liệu dạy và học; chuẩn bị đội ngũ giáo viên; đổi mới phương pháp dạy học; phương pháp kiểm tra, đánh giá; đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng và tạo môi trường sử dụng tiếng Anh trong trường học.
Cần có sự chuẩn bị cho cả giáo viên các môn học khác
Để phục vụ cho mục tiêu đưa tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai trong trường học, TS Mai Hữu cho rằng việc nâng cao năng lực cho giáo viên tiếng Anh là chưa đủ mà cần có sự chuẩn bị cho cả giáo viên các môn học khác về khả năng sử dụng tiếng Anh trong chuyên môn, bao gồm giáo viên đang công tác và giáo viên được đào tạo trước khi vào nghề.
Về vấn đề chuẩn bị năng lực tiếng Anh cho giáo viên các bộ môn khác, trao đổi với phóng viên Dân trí, GS Dovchin Sender, Đại học Curtin (Australia), khuyến nghị áp dụng cách tiếp cận từng bước và có sự hỗ trợ, thay vì kỳ vọng giáo viên đột ngột phải giảng dạy hoàn toàn môn học của mình bằng tiếng Anh.

GS Dovchin Sender, Đại học Curtin (Australia) (Ảnh: Nguyễn Vy).
Theo bà, quá trình phát triển chuyên môn có thể bắt đầu từ tiếng Anh chuyên ngành, tức vốn ngôn ngữ cần thiết đối với giáo viên toán, khoa học, lịch sử, nghệ thuật..., sau đó tạo cơ hội để giáo viên từng bước đưa tiếng Anh vào một số hoạt động, tài liệu hoặc một phần bài học.
Đặc biệt, GS Dovchin Sender khuyến khích sử dụng chuyển ngữ linh hoạt (translanguaging), tức giáo viên chủ động sử dụng cả tiếng Việt và tiếng Anh để hỗ trợ học sinh hiểu bài.
Chẳng hạn, giáo viên có thể giới thiệu một khái niệm phức tạp bằng tiếng Anh, giải thích nội dung khó bằng tiếng Việt, sau đó quay lại tiếng Anh để thảo luận hoặc vận dụng khái niệm đó.
Cách tiếp cận này giúp học sinh có thể “huy động” toàn bộ vốn ngôn ngữ của mình như một nguồn lực phục vụ việc học.
GS Dovchin Sender cũng đề xuất các trường xây dựng cộng đồng thực hành (communities of practice), trong đó giáo viên các môn học phối hợp với chuyên gia tiếng Anh để xây dựng tài liệu song ngữ, thực hành ngôn ngữ sử dụng trong lớp học và chia sẻ phương pháp giảng dạy. Hoạt động cố vấn, dự giờ đồng nghiệp cũng có thể hỗ trợ quá trình này.
Theo bà, giáo viên cần được dành thời gian và ghi nhận cho quá trình phát triển chuyên môn, thay vì xem việc nâng cao năng lực tiếng Anh như một yêu cầu bổ sung vào khối lượng công việc vốn đã lớn.
Quan trọng hơn, giáo viên không nên chờ đến khi tiếng Anh của mình hoàn hảo mới sử dụng ngôn ngữ này trong lớp học.
"Sự tự tin được hình thành qua quá trình thực hành có hỗ trợ và những trải nghiệm thành công. Học sinh cũng có thể hưởng lợi khi chứng kiến giáo viên sử dụng tiếng Anh có mục đích, đồng thời vẫn duy trì tiếng Việt như một ngôn ngữ và văn hóa quan trọng.
Sau cùng, mục tiêu không phải biến mọi giáo viên bộ môn thành giáo viên tiếng Anh, mà là xây dựng những nhà giáo song ngữ tự tin trong lĩnh vực chuyên môn của mình", GS Dovchin Sender chia sẻ.
Đề cập đến việc ứng dụng công nghệ trong dạy và học tiếng Anh của giáo viên, bà Lê Thị Thùy Dương - Giám đốc SEAMEO RETRAC - nhận định trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số và môi trường học tập mới đang làm thay đổi cách giảng dạy và học ngoại ngữ.

Bà Lê Thị Thùy Dương, Giám đốc SEAMEO RETRAC (Ảnh: Nguyễn Vy).
Những tiến bộ này mở ra nhiều cơ hội đầy triển vọng, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận lại cách thức dạy học, đánh giá kết quả học tập cũng như phát triển đội ngũ giáo viên.
"Tuy nhiên, công nghệ có thể hỗ trợ hoạt động giảng dạy, nhưng không thể thay thế sự tận tâm, tính sáng tạo và nguồn cảm hứng mà mỗi người thầy mang đến cho lớp học. Trí tuệ nhân tạo có thể cung cấp thông tin, nhưng chính người thầy mới là người giúp người học phát triển tư duy phản biện, giao tiếp tự tin và hoàn thiện bản thân", bà nhấn mạnh.





