Chủ quán né tránh, khách vẫn mơ hồ: Mở YouTube hát karaoke có đúng luật?
(Dân trí) - Khi phóng viên Dân trí liên hệ, nhiều chủ quán karaoke tỏ ra né tránh trước câu hỏi về vấn đề bản quyền, trong khi không ít khách hàng vẫn nghĩ mở YouTube để hát là đúng luật.
Chủ quán karaoke dè dặt, khách mơ hồ về bản quyền
Mới đây, Giám đốc Công ty Việt KTV bị khởi tố với cáo buộc sao chép khoảng 1.500 tác phẩm âm nhạc để tích hợp vào thiết bị karaoke, phân phối ra thị trường, thu lợi bất chính. Sau sự việc, câu chuyện bản quyền tại các cơ sở kinh doanh karaoke cũng nhận được nhiều quan tâm.
Khi phóng viên Dân trí liên hệ một số cơ sở karaoke tại TPHCM để tìm hiểu việc thực hiện nghĩa vụ bản quyền âm nhạc, hầu hết chủ quán đều từ chối trao đổi hoặc cho biết "không tiện chia sẻ".
"Về việc Giám đốc Công ty Việt KTV bị khởi tố, chúng tôi không có ý kiến. Còn các quy định về bản quyền thì chúng tôi cũng chưa nắm rõ", đại diện một cơ sở karaoke nói với phóng viên.
Không chỉ các chủ cơ sở kinh doanh, nhiều khách hàng cũng khá mơ hồ khi được hỏi về câu chuyện bản quyền trong hoạt động karaoke. Phần lớn cho rằng việc mở YouTube để hát là điều bình thường nên chưa từng nghĩ đến việc hình thức sử dụng âm nhạc này có thể liên quan đến các quy định về quyền tác giả.
Nguyễn Thành Nhân (25 tuổi, ngụ phường Gò Vấp, TPHCM) làm nghề giao hàng. Cuối tuần hoặc những dịp liên hoan, anh và nhóm đồng nghiệp thường hẹn nhau đến các quán karaoke để giải trí. Lần gần nhất, Nhân đi hát karaoke là tối 2/8 tại một quán trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh (TPHCM).
Theo Nhân, việc đặt phòng diễn ra như mọi lần. Cả nhóm thuê phòng theo giờ với mức giá khoảng 300.000 đồng/giờ. Đây cũng là địa điểm anh thường lui tới vì không gian rộng, chất lượng âm thanh tốt và hệ thống tìm kiếm bài hát khá thuận tiện.
Điều khiến Nhân chú ý là ngoài kho nhạc có sẵn trong đầu karaoke, quán còn cho phép khách mở YouTube để tìm bài hát. Theo anh, trong suốt buổi hát, nhóm bạn gần như chỉ sử dụng YouTube vì "bài nào cũng có", từ các ca khúc mới phát hành đến những bài ít xuất hiện trong kho nhạc của máy karaoke.
"Hầu như bài hát nào cũng có trên YouTube nên chúng tôi cứ mở lên hát thôi. Gần đây tôi cũng có thấy vụ Giám đốc Việt KTV bị khởi tố nhưng không tìm hiểu sâu, vì nghĩ chuyện đó chắc không liên quan đến khách hàng. Nếu có phải trả tiền bản quyền thì tôi nghĩ phía quán sẽ làm việc với các bên liên quan, còn khách như chúng tôi chỉ trả tiền hát theo giờ", Nhân nói.

Nhiều khách hàng cho biết chưa từng tìm hiểu các quy định về bản quyền khi sử dụng dịch vụ karaoke (Ảnh: Minh Hoàng).
Cùng quan điểm, anh H.M.T. (24 tuổi, phường Hòa Hưng, TPHCM) cho biết, mỗi khi quán mở YouTube cho khách chọn bài, anh chỉ xem đó là cách tìm nhạc thuận tiện hơn chứ chưa từng nghĩ việc này có thể liên quan đến các quy định về quyền tác giả và quyền liên quan. "Tôi cũng mặc định nếu có vấn đề thì phía quán sẽ làm việc với các bên liên quan", anh H.M.T. chia sẻ.
Chị Nguyễn Thị Thúy Vy (27 tuổi, phường Thủ Đức, TPHCM), người thường sử dụng dịch vụ karaoke box (mô hình karaoke trong hộp), bày tỏ sự bất ngờ: "Chúng tôi trả tiền theo giờ rồi hát trên hệ thống có sẵn hoặc tìm bài trên YouTube. Nếu việc sử dụng YouTube tại quán vẫn có thể phát sinh nghĩa vụ bản quyền thì thật sự tôi cũng không biết ranh giới nằm ở đâu, khách hàng có bị ảnh hưởng gì không?".
Qua khảo sát, có thể thấy nhiều chủ cơ sở kinh doanh tỏ ra dè dặt còn khách hàng vẫn mơ hồ khi được hỏi về câu chuyện bản quyền. Điều này phản ánh rằng người kinh doanh lẫn khách hàng vẫn chưa phân biệt được đâu là hành vi có nguy cơ xâm phạm quyền tác giả, đâu là việc sử dụng âm nhạc hợp pháp trong hoạt động karaoke.
Thế nào là sử dụng âm nhạc hợp pháp trong hoạt động kinh doanh? Việc mở YouTube cho khách hát có đồng nghĩa đã đáp ứng các yêu cầu về bản quyền? Và một quán karaoke muốn hoạt động đúng quy định thì cần thực hiện những nghĩa vụ gì?
Mở YouTube cho khách hát chưa chắc đã hoàn thành nghĩa vụ về bản quyền
Theo luật sư Trương Văn Tuấn (Đoàn Luật sư TPHCM), điều đầu tiên cần làm rõ là không nên đánh đồng vụ Giám đốc Việt KTV bị khởi tố, với hoạt động kinh doanh của một quán karaoke thông thường.
Ông phân tích, theo thông tin từ cơ quan điều tra, vụ Việt KTV bị xem xét không phải vì đơn thuần cung cấp dịch vụ karaoke, mà xuất phát từ hành vi bị cáo buộc sao chép, xử lý và tích hợp hàng nghìn tác phẩm âm nhạc vào thiết bị karaoke để phân phối ra thị trường khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền.
"Nếu kết quả điều tra xác định việc sao chép và phân phối tác phẩm được thực hiện trái phép, có yếu tố thu lợi bất chính hoặc gây thiệt hại ở mức luật định thì hành vi này có thể bị xem xét về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, theo Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)", luật sư Tuấn cho biết.
Trong khi đó, với các quán karaoke thông thường, điều cần quan tâm không phải là có sử dụng đầu karaoke hay YouTube, mà là việc khai thác âm nhạc trong hoạt động kinh doanh đã tuân thủ các quy định về quyền tác giả và quyền liên quan hay chưa.
Theo luật sư, nhiều cơ sở kinh doanh cho rằng chỉ cần mở YouTube cho khách hát thì không còn vướng bản quyền. Tuy nhiên, đây là cách hiểu chưa đầy đủ.
Luật sư phân tích, việc một nền tảng như YouTube hay Spotify có ký kết thỏa thuận bản quyền với các tác giả, nhạc sĩ hoặc các đơn vị nắm quyền đối với bản ghi không đồng nghĩa mọi tổ chức, cá nhân đều có thể sử dụng các nội dung đó vào mục đích kinh doanh mà không phát sinh nghĩa vụ pháp lý.
"Nói cách khác, việc một bài hát xuất hiện trên YouTube không đồng nghĩa bất kỳ quán karaoke hay cơ sở kinh doanh nào cũng có quyền sử dụng bài hát đó để phục vụ hoạt động thương mại mà không cần xem xét các nghĩa vụ pháp lý liên quan", luật sư phân tích.
Ông cho rằng, đầu karaoke có sẵn dữ liệu hay YouTube chỉ khác nhau về cách thức cung cấp nội dung, không làm thay đổi bản chất pháp lý của việc sử dụng âm nhạc trong kinh doanh. Vì vậy, chủ cơ sở vẫn phải bảo đảm nguồn nhạc được khai thác hợp pháp và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định.
Đối với thắc mắc liệu khách hàng đến sử dụng dịch vụ karaoke có phải trả tiền bản quyền hay không, luật sư cho rằng nghĩa vụ này đặt ra đối với cơ sở kinh doanh, vốn là bên sử dụng âm nhạc để phục vụ hoạt động kinh doanh, chứ không phải khách hàng - những người chỉ đến sử dụng dịch vụ.
Chủ quán cần làm gì để hạn chế rủi ro pháp lý?
Theo luật sư Trương Văn Tuấn, một trong những hiểu lầm phổ biến hiện nay là nhiều cơ sở kinh doanh cho rằng chỉ cần mua đầu karaoke, tải bài hát hợp pháp hoặc sử dụng các nền tảng trực tuyến là có thể khai thác âm nhạc để kinh doanh.
Thực tế, quyền sở hữu đối với thiết bị, phần mềm hay bản ghi không đồng nghĩa với quyền sử dụng các tác phẩm âm nhạc vào mục đích thương mại. Tương tự, việc không chỉnh sửa bài hát, không gắn tên mình lên tác phẩm hoặc không thu phí riêng cho việc nghe nhạc cũng không có nghĩa được miễn trừ các nghĩa vụ về quyền tác giả và quyền liên quan.
"Việc khai thác tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình trong hoạt động kinh doanh phải tuân thủ quy định của pháp luật và được sự cho phép của chủ thể quyền hoặc thực hiện thông qua tổ chức đại diện tập thể quyền khi thuộc trường hợp phải xin phép", luật sư Tuấn nhấn mạnh.
Để hạn chế rủi ro pháp lý, luật sư khuyến nghị các cơ sở kinh doanh chỉ sử dụng nguồn nhạc, phần mềm karaoke hoặc dữ liệu âm nhạc có nguồn gốc hợp pháp; đồng thời chủ động kiểm tra việc khai thác các tác phẩm đã được cấp quyền hay chưa và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định.

Nhiều chủ cơ sở karaoke tỏ ra dè dặt khi được hỏi về việc thực hiện bản quyền âm nhạc (Ảnh minh họa: Quỳnh Tâm).
Theo ông Trương Văn Tuấn, các cơ sở kinh doanh cũng cần xác định đúng đơn vị đại diện quyền để thực hiện việc xin phép hoặc thanh toán tiền bản quyền khi thuộc trường hợp pháp luật quy định.
"Đối với quyền tác giả của ca khúc, chủ cơ sở có thể làm việc với Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) để thực hiện việc xin phép và thanh toán tiền sử dụng tác phẩm trong trường hợp tác phẩm thuộc phạm vi quản lý của tổ chức này.
Đối với quyền liên quan, tùy từng bản ghi âm, ghi hình và từng chủ sở hữu, chủ quán có thể phải làm việc với các tổ chức đại diện quyền liên quan hoặc trực tiếp với đơn vị nắm giữ quyền đối với bản ghi như: Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam (RIAV), Trung tâm Quyền liên quan đến tác giả Việt Nam (VCA)…", luật sư hướng dẫn.
Bên cạnh đó, chủ cơ sở nên lưu giữ hợp đồng, hóa đơn, chứng từ và các tài liệu chứng minh quyền sử dụng hợp pháp, đồng thời thường xuyên rà soát kho dữ liệu, không tự ý sao chép hoặc bổ sung bài hát từ những nguồn không rõ xuất xứ.
Theo luật sư, việc tuân thủ quy định về quyền tác giả ngay từ đầu không chỉ giúp cơ sở kinh doanh hạn chế rủi ro pháp lý mà còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tác giả, nhà sản xuất và các chủ thể quyền.










