Chiếc áo bộ trưởng mượn và điều nhà báo phương Tây kinh ngạc ở Việt Nam
(Dân trí) - Năm 1984, ông Thomas Bo Pedersen có cơ hội phỏng vấn Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Đến nay, nhà báo Đan Mạch vẫn nhớ khoảnh khắc, ông Thạch mượn vest để dự họp với phái đoàn Liên hợp quốc.
Đặt chân đến Việt Nam lần đầu tiên năm 1984 để tìm hiểu về cuộc sống thời hậu chiến, nhà báo Thomas Bo Pedersen (Đan Mạch) nghĩ nhiệm kỳ của mình sẽ kết thúc nhanh chóng, nhưng ông không ngờ “Việt Nam lại gắn bó như định mệnh” và “thay đổi cuộc đời ông mãi mãi”…
Tàn tích chiến tranh ở khắp mọi nơi những năm 80
Năm đó, Thomas Bo Pedersen là chàng trai 29 tuổi, vừa tốt nghiệp đại học chuyên ngành báo chí đầy hoài bão và nhiệt huyết.
Trong một sự kiện ở Đan Mạch, ông tình cờ gặp nữ bác sĩ nổi tiếng đến từ Việt Nam - Nguyễn Thị Ngọc Phượng. Câu chuyện day dứt về hậu quả của chiến tranh, cuộc sống của các nạn nhân chất độc màu da cam… khiến Thomas rất xúc động. Ông không ngờ, cuộc trò chuyện ngắn ngủi với nữ bác sĩ người Việt đã khiến cuộc đời mình rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.
“Nỗi day dứt và mong muốn đưa những câu chuyện chân thực nhất thời hậu chiến ở Việt Nam cho thế giới thấy đã thôi thúc tôi bằng mọi giá phải lên đường đến đây”, Thomas nhớ lại.

Đường phố Hà Nội năm 1984 (Ảnh: Thomas Bo Pedersen).
Năm 1984, việc xin visa vào Việt Nam không dễ dàng. Việt Nam đang chịu cấm vận của Mỹ, quan hệ đối ngoại chủ yếu trong khối các nước xã hội chủ nghĩa. Ở Đan Mạch không có văn phòng đại sứ quán của Việt Nam, để xin được visa, ông phải bay sang Thuỵ Điển làm thủ tục.
Thời điểm đó, Thomas Bo Pedersen là một trong những nhà báo phương Tây đầu tiên có mặt ở miền Bắc Việt Nam. Trái ngược với sự lo lắng ban đầu, theo Thomas khi có visa trong tay “mọi cánh cửa đều rộng mở” và “Việt Nam chào đón ông ngoài sức tưởng tượng”.
“Là một người nước ngoài, khi tôi xuất hiện trên đường phố, những đứa trẻ đều nở nụ cười hò reo, thậm chí bắt tay tôi thích thú”, Thomas chia sẻ.
Năm 1984, dù đã 10 năm sau chiến tranh song tàn tích của cuộc chiến vẫn hiện diện khắp nơi ở Việt Nam. Là một người trẻ lớn lên ở châu Âu, chưa từng trải qua bom đạn, nên những gì tận mắt chứng kiến khiến Thomas không giấu nổi sự bất ngờ xen lẫn kinh ngạc.
“Mọi thứ vượt quá sự tưởng tượng và hình dung của tôi”, Thomas nói.
Tại sân bay Tân Sơn Nhất, Thomas lạ lẫm khi thấy khung cảnh ngổn ngang của khí tài, vũ khí…, nhiều ngôi nhà vẫn còn vết cháy của bom đạn.

Người dân Hà Nội đọc báo tại một bảng tin công cộng năm 1984 (Ảnh: Thomas Bo Pedersen).
Khoảng 80% dân số Việt Nam thời đó sống dưới chuẩn nghèo của Liên hợp quốc (1 USD mỗi ngày). Bữa cơm trong gia đình người dân ở miền Bắc Việt Nam thường chỉ có cơm trắng độn thêm khoai, rau muống và nước mắm. Đường phố không có ô tô, xe máy càng hiếm, gia đình có điều kiện mới có xe đạp để đi.
Cũng giống như người dân, cuộc sống của Thomas khi ấy cũng không mấy dư dả.
Ông ở trọ trong một căn nhà nhỏ trên phố cổ Hà Nội, mùa đông không có lò sưởi, nước cũng phải đi lấy ở rất xa để sinh hoạt. Mỗi buổi sáng, Thomas chứng kiến dòng người xếp hàng trên phố để mua thực phẩm bằng tem phiếu. Dù đã quen với cái lạnh ở châu Âu nhưng cái lạnh Hà Nội vẫn khiến Thomas bị sốc.
“Đó là cái lạnh tê tái, lạnh buốt với độ ẩm cao xuyên thấu da thịt. Dù có áo ấm, chăn bông nhưng tôi vẫn thấy rất khó khăn. Trong khi đó, trên đường phố, tôi không khỏi kinh ngạc khi thấy người dân vẫn mang manh áo mỏng, trẻ em thậm chí không có dép để đi”, Thomas kể.

Cho đến bây giờ những ký ức về Việt Nam sau chiến tranh vẫn khiến Thomas xúc động mỗi lần nhớ lại (Ảnh Nguyễn Hà Nam).
Chuyện về chiếc áo Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đi mượn
Chứng kiến những hình ảnh này, Thomas từng day dứt tự hỏi: Liệu Việt Nam có thể vượt lên mà phát triển được hay không? Thế nhưng, Việt Nam sau đó đã làm được những điều “thật thần kỳ”.
Bước ngoặt này, Thomas cho rằng bắt đầu từ công cuộc đổi mới năm 1986.

Nhà báo Thomas trong một lần phỏng vấn ông Phạm Văn Đồng vào năm 1985 (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Kinh tế Việt Nam chuyển từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Quyết định quan trọng của Đảng đã giúp “phá rào” và đặt nền móng cho kinh tế tư nhân phát triển, góp phần xóa bỏ khủng hoảng kinh tế. Hàng triệu người bừng lên tinh thần khởi nghiệp.
Từ một nước nghèo đói, thiếu lương thực, chỉ sau 2 thế hệ (khoảng 50 năm), Việt Nam đã đạt được thành tựu vượt bậc, trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản. Trong khi đó, theo Thomas để làm được điều này, Đan Mạch phải mất 200 năm.
“Việt Nam đã đi rất xa chỉ trong một thời gian ngắn”, Thomas nói.
Sự thay đổi này của Việt Nam, theo nhà báo Đan Mạch không phải đến từ sự hỗ trợ bên ngoài mà chính nhờ nội lực, sự quyết tâm của người đứng đầu đất nước và chính người dân Việt Nam.

Nhà báo Thomas phỏng vấn bà Nguyễn Thị Bình vào năm 1984 (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
“Những người lãnh đạo Việt Nam mà tôi từng có may mắn phỏng vấn như ông Nguyễn Cơ Thạch, bà Nguyễn Thị Bình, ông Phạm Văn Đồng hay Đại tướng Võ Nguyên Giáp… đều rất khiêm tốn, giản dị và uyên bác.
Họ đều trải qua sự hy sinh của gia đình trong chiến tranh, hoà bình lập lại, họ vẫn tiếp tục đưa đất nước tiến lên phía trước. Không có ai nói một cách kiêu ngạo hay những điều to tát về bản thân… Sự khiêm tốn đó giúp tôi hiểu vì sao Việt Nam lại thành công”, Thomas nói.
Thomas nhớ nhất là cuộc gặp với Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch vào năm 1984.
Là nhà ngoại giao tài ba, thông minh, có những đóng góp quan trọng vào việc ký kết và thực hiện Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, nên khi biết ông Thạch nhận lời phỏng vấn, Thomas đã rất hồi hộp, lo lắng. Trái ngược với hình dung ban đầu, vị nhà báo phương Tây bất ngờ bởi sự cởi mở, thân thiện của nhà ngoại giao kỳ cựu.
“Ông Thạch bắt đầu cuộc trò chuyện với tôi bằng nụ cười sảng khoái và những câu đùa hóm hỉnh. Tôi ấn tượng bởi cặp mắt rực lửa, mái đầu bạc, cách hùng biện, nói chuyện bằng tiếng Anh lưu loát và uyên bác của ông”, Thomas kể.

Nhà báo Đan Mạch ấn tượng với cặp mắt rực lửa, tài tranh luận bằng tiếng Anh của ông Nguyễn Cơ Thạch. Ảnh chụp năm 1984 (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Lần đó, khi đang dở cuộc phỏng vấn, thư ký riêng của Bộ trưởng bất ngờ chạy vào thông báo điều gì đó. Ông Thạch cáo lỗi, tạm dừng để chạy đi mượn bộ vest ở kho của cơ quan, chuẩn bị dự họp với phái đoàn Liên hợp quốc. Chàng phóng viên Đan Mạch lúc đó nghĩ Bộ trưởng nói đùa. Nhưng nhiều năm sau, khi gặp lại trợ lý của Bộ trưởng, ông mới biết đó là sự thật.
“Cựu trợ lý của ông Nguyễn Cơ Thạch, bà Đinh Thị Minh Huyền sau này còn tiết lộ thêm cho tôi về những khó khăn mà những lãnh đạo như ông Thạch thời kỳ đó phải đối mặt. Năm 1980, khi tham dự Phiên họp Đại hội đồng Liên hợp quốc, những thành viên nữ trong phái đoàn Việt Nam không quen thời tiết lạnh ở Mỹ.
Ông Thạch đã quyết định lấy tiền công tác phí của mình để chi cho nhân viên mua quần áo ấm. Hôm sau, ông Thạch tháo giày để vào phòng họp, bà Huyền và nhiều nhân viên mới thấy đôi tất ông đang đi đã thủng vài chỗ…”, Thomas nhớ lại.
Thomas kể mình có may mắn được gặp ông Thạch hai lần nữa, nhưng chưa bao giờ những câu hỏi của ông có thể khiến vị bộ trưởng Việt Nam lúng túng.
“Sau này, tôi vẫn dõi theo ông từ xa. Ông Thạch tiếp tục để lại dấu ấn của mình trên trường ngoại giao và truyền thông quốc tế với chiến lược "thêm bạn - bớt thù". Ông Thạch làm việc không mệt mỏi để thúc đẩy các kênh ngoại giao của Việt Nam, nhất là việc cải thiện mối quan hệ ngoại giao với Mỹ”, Thomas nói.

Năng lượng tích cực theo Thomas đã giúp Việt Nam làm được những điều thần kỳ mà các quốc gia khác không có được (Ảnh: Nguyễn Hà Nam).
Điều khiến vị nhà báo phương Tây kinh ngạc ở Việt Nam
Vị nhà báo phương Tây chia sẻ, “năng lượng tích cực” của Việt Nam không chỉ toả ra từ các vị lãnh đạo cấp cao, mà mỗi người dân ông gặp trên đường đều để lại cho ông những ấn tượng sâu sắc.
Một lần, khi gọi xích lô để di chuyển ở Hà Nội, Thomas bất ngờ khi người lái xe đã ngoài 50 tuổi nhưng lại có kiến thức uyên bác, nói tiếng Anh lưu loát. Khi biết Thomas đến từ Đan Mạch, người lái xích lô đã rất hứng khởi thảo luận về triết gia nổi tiếng Søren Kierkegaard.
“Thú thật, thời đại học, chúng tôi cũng được học về vị triết gia này nhưng không dễ gì hiểu được. Vì thế, khi một người lao động ở Việt Nam lại có thể nói rành mạch, hiểu sâu về Søren Kierkegaard khiến tôi vừa thán phục vừa kinh ngạc. Sau đó, tôi mới phát hiện, người lái xích lô thực chất là một giáo sư và đang là một giảng viên đại học. Ông ấy lái xích lô chỉ là công việc phụ để kiếm thêm tiền”, Thomas nói.

Người dân Hà Nội bán thịt bò trên vỉa hè năm 1985 (Ảnh: Thomas Bo Pedersen).
Sau này, Thomas ngày càng phát hiện ra những câu chuyện tương tự ở Hà Nội thời điểm đó: Người bơm vá xe ở đầu ngõ có thể là giáo viên, người bán nước chè có thể là một bác sĩ… Những năm 80-90, Việt Nam đang trong giai đoạn phục hồi kinh tế nên những trí thức, giảng viên… phải làm thêm các nghề để kiếm sống. Họ rất chăm chỉ, yêu lao động và khiêm tốn.
Chính năng lượng tích cực này theo Thomas đã giúp Việt Nam làm được những điều thần kỳ mà các quốc gia khác không có được.
“Sau chiến tranh, nhiều người phương Tây bao gồm các nhà báo, sử học và cựu binh Mỹ trong đó có cả tôi đã luôn mong muốn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Vì sao mảnh đất nhỏ bé hình chữ S lại thắng được siêu cường Mỹ? Những năm tháng ở đây đã giúp tôi có lời giải cho chính mình. Đó chính là sức mạnh dân tộc, năng lượng tích cực của từng người dân Việt Nam. Trong hoàn cảnh khó khăn, người Việt Nam luôn biết cách vượt lên mạnh mẽ.
Mỗi số phận, nhân vật, con người mà tôi gặp đều khiến tôi đi hết từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Chính vì thế, khác với dự định ban đầu là đến Việt Nam vài tháng, cuộc sống ở đất nước hình chữ S đã khiến tôi quyết định trở lại đây thêm nhiều lần và gắn bó lâu dài”, Thomas nói.
“Việt Nam là nhà, là nơi thay đổi tôi mãi mãi”…
Năm 1994, Thomas Bo Pedersen gia nhập Bộ Ngoại giao Đan Mạch, bắt đầu giai đoạn mới trong sự nghiệp. Ông đảm nhiệm nhiều vị trí liên quan đến khu vực châu Á, trong đó có các chương trình hợp tác phát triển tại Việt Nam. Cũng giai đoạn này ông chứng kiến sự “lột xác” và đổi thay của Việt Nam.
“Những quyết sách đúng đắn của Đảng đã giúp thu hút hàng tỉ USD đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam, biến đất nước này trở thành điểm đến hấp dẫn bậc nhất châu Á.
Thời điểm tôi làm việc tại Đại sứ quán Đan Mạch, phụ trách mảng thương mại, mới chỉ có chưa đến 20 công ty Đan Mạch đầu tư vào Việt Nam. Vậy mà sau 40 năm, con số này đã chạm mốc 200 doanh nghiệp. Không chỉ Đan Mạch, mà doanh nghiệp của các nước như Mỹ, Pháp, Anh… cũng ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc”, Thomas nói.

Ông Thomas nhận kỷ niệm chương "Vì nạn nhân chất độc màu da cam" (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Bước ngoặt và định mệnh lớn nhất của Thomas vào năm 2002, khi ông trở lại Hà Nội với cương vị Tham tán Thương mại tại Đại sứ quán Đan Mạch. Đây là giai đoạn ông trực tiếp tham gia thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và phát triển giữa Việt Nam và Đan Mạch, mối quan hệ được đánh giá là hình mẫu trong hợp tác Bắc Âu - Đông Nam Á.
Sau khi hết nhiệm kỳ, ông được cử sang Malaysia công tác tiếp. Lúc này, để được ở lại Việt Nam, Thomas đã nhận lời mời làm quản lý cấp cao cho Mascot - một doanh nghiệp của Đan Mạch. Dưới sự dẫn dắt của ông, từ khi chỉ có 1 nhân viên, đến nay công ty đã mở rộng xây dựng 2 nhà máy ở Việt Nam, tạo công ăn việc làm cho 4.000 nhân viên.
Hơn 40 năm gắn bó với Việt Nam, trải qua các vị trí: Nhà báo, nhà ngoại giao và doanh nhân, có một điều không thay đổi là tình yêu mà Thomas dành cho mảnh đất hình chữ S.

Đến nay, dù đã ngoài 70 tuổi, Thomas vẫn nỗ lực, tiếp tục những câu chuyện truyền cảm hứng về Việt Nam (Ảnh Nguyễn Hà Nam).
Ở vai trò nhà báo, ông đã thực hiện hàng trăm bài báo, phỏng vấn mọi tầng lớp, từ nguyên thủ quốc gia đến những nữ thanh niên xung phong mở đường Trường Sơn, những du kích gan dạ, đặc biệt là ký ức đau đớn của các nạn nhân sau thảm sát Mỹ Lai… Từ đó, cho thế giới thấy những góc khuất, hậu quả khủng khiếp mà chiến tranh để lại.
Ông cũng lưu trữ hơn 50.000 tấm ảnh về Hà Nội và là tác giả của các cuốn sách ghi chép về lịch sử, tình bạn và đất nước Việt Nam.
Ở vai trò ngoại giao, ông nỗ lực thúc đẩy mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam - Đan Mạch, góp phần thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Đặc biệt, Thomas đã có nhiều dự án hỗ trợ và khắc phục hậu quả dành cho các nạn nhân chất độc màu da cam. Còn ở vai trò doanh nhân, ông cũng tạo ra những dấu ấn đáng tự hào.

Ông Thomas Bo Pederse trong cuộc phỏng vấn với phóng viên Dân trí (Ảnh: Nguyễn Hà Nam).
Đến nay, dù đã ngoài 70 tuổi, Thomas vẫn nỗ lực, tiếp tục những câu chuyện truyền cảm hứng về Việt Nam.
“Việt Nam đã tạo ra thành công, tạo nên con người và những thay đổi tích cực trong tôi”, Thomas nói.
Trong căn nhà của ông tại Copenhagen, Đan Mạch, nếu không nói nhiều người sẽ lầm tưởng là đang bước vào ngôi nhà của người Việt chính gốc. Trên bức tường ở phòng khách treo kín các bức tranh nghệ thuật của các hoạ sĩ người Việt. Bức ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Nguyễn Cơ Thạch, Phạm Xuân Ẩn cũng được Thomas lựa chọn đặt ở vị trí trang trọng.

Thomas ra mắt cuốn sách “Những bóng ma trở lại” bằng cả tiếng Việt Nam và Đan Mạch (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Cũng giống như ông, các thành viên trong gia đình Thomas đều dành tình yêu đặc biệt cho mảnh đất hình chữ S. “Con gái út của tôi đã sống ở Việt Nam 13 năm. Mỗi năm chúng tôi đều dành thời gian ở cả Đan Mạch và Việt Nam. Mỗi lần về Việt Nam, con gái tôi luôn gọi đó là về nhà, trở về quê hương của mình”, Thomas xúc động nói.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn lịch sử - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Vị nhà báo Đan Mạch cho rằng, ông tin với sức mạnh đồng lòng, sự quyết tâm và đoàn kết, người dân Việt Nam sẽ tiếp tục đưa đất nước tiến lên.
“So với 40 năm trước, cuộc sống của người Việt Nam giờ đã khác hẳn: Thu nhập tốt hơn, cơ hội nhiều hơn, cuộc sống đủ đầy hơn. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có mức tăng trưởng cao nhất khu vực Đông Nam Á.
Tất nhiên, Việt Nam vẫn còn đối mặt với những khó khăn, thách thức nhưng rõ ràng đã ở một vị thế khác xưa rất nhiều. Tôi chỉ tiếc mình đang già đi, nếu không tôi sẽ có thêm nhiều 40 năm gắn bó để chứng kiến những kỳ tích, thay đổi của Việt Nam”, Thomas nói.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Phạm Tuấn Phan - con trai cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch - cho biết, khoảng năm 2009, ông biết Thomas đang công tác tại Đại sứ quán Đan Mạch ở Việt Nam.
Thời điểm đó, ông Tuấn Phan là doanh nhân, mong muốn 2 người kết nối để bàn bạc về kinh doanh. Tuy nhiên, ông Thomas rất bận nên cuộc gặp không thể diễn ra. Sau khi nghỉ hưu, ông Tuấn Phan chủ động liên hệ. Nhờ sợi dây liên lạc này, hai người xây dựng tình bạn và trở nên thân thiết.
Theo ông Tuấn Phan, ông Thomas là phóng viên đã phỏng vấn ông Nguyễn Cơ Thạch hồi năm 1984-1985.
"Tôi từng nghe ông ấy kể về chuyện bộ vest bố tôi đi mượn để dự họp Liên hợp quốc. Lúc đó, Thomas là một phóng viên trẻ nhưng đã có tình yêu sâu đậm đối với Việt Nam", ông Tuấn Phan nhớ lại.
Ngoài là nhà báo, Thomas từng là Tham tán, Đại sứ quán Đan Mạch ở Hà Nội; Giám đốc điều hành, Mascot International Việt Nam…
Năm 2011, ông nhận Huân chương Danh dự của Hoàng thân Henrik vì những đóng góp xuất sắc trong quan hệ thương mại giữa Đan Mạch và Việt Nam. Năm 2018, ông được tặng Kỷ niệm chương do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng.
Năm 2019 ông nhận Huân chương Danh dự của Hiệp hội hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam Việt Nam (VAVA).
Năm 2025, Thomas ra mắt cuốn sách “Những bóng ma trở lại” bằng cả tiếng Việt Nam và Đan Mạch. Thomas cho biết cảm hứng dẫn dắt ông viết cuốn sách này đến từ những điều ông mắt thấy tai nghe tại Việt Nam trong suốt 40 năm ông gắn bó mảnh đất này với nhiều vai trò, từ nhà báo, nhà ngoại giao đến doanh nhân…















