Những hành vi sử dụng AI bị nghiêm cấm tại Việt Nam
(Dân trí) - Các công cụ AI đang ngày càng trở nên phổ biến và đa dạng. Tuy nhiên, nhiều người không biết rằng nhiều hành vi sử dụng AI đang bị nghiêm cấm tại Việt Nam.
Luật Trí tuệ nhân tạo chính thức có hiệu lực từ ngày 1/3
Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã chính thức thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo (AI) với 429/434 đại biểu tham dự (90,70%) biểu quyết tán thành.
Luật Trí tuệ nhân tạo chính thức có hiệu lực từ ngày 1/3, gồm 35 điều, được thiết kế theo hướng “quản lý để phát triển”, bảo đảm cân bằng giữa kiểm soát rủi ro và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phù hợp với thông lệ quốc tế và hỗ trợ Việt Nam chủ động hội nhập với các chuẩn mực công nghệ mới.

Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo với số phiếu tán thành cao (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ).
Luật được thông qua trong bối cảnh các công cụ AI đang ngày càng trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi cho nhiều mục đích khác nhau. Bên cạnh việc sử dụng AI để phục vụ cho công việc, học tập, nghiên cứu và nhu cầu hàng ngày, không ít người đã sử dụng AI cho mục đích xấu như tạo và lan truyền thông tin giả mạo, tống tiền…
Luật AI tiếp cận và xử lý những vấn đề mới nổi như nội dung do AI sinh ra và trách nhiệm của các nền tảng cung cấp dịch vụ AI xuyên biên giới; đảm bảo giữ vững chủ quyền số khi hội nhập sâu với các chuẩn mực quốc tế.
Luật định hướng quản lý các hệ thống AI theo mức độ rủi ro, phân loại theo mức độ cao, trung bình và thấp từ đó gắn với nghĩa vụ pháp lý tương ứng

Người dùng có thể sử dụng các công cụ AI để tạo ra các nội dung khác nhau, từ hình ảnh, video, âm nhạc đến mã lập trình… (Ảnh minh họa: Gemini).
Những ứng dụng có nguy cơ cao đối với quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (trong lĩnh vực tài chính, y tế, tư pháp, lao động, giáo dục…) sẽ phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe hơn về dữ liệu, kiểm định, giám sát và cơ chế can thiệp của con người.
Việc thông qua Luật AI được đánh giá mang tính bước ngoặt, giúp Việt Nam bắt kịp xu thế phát triển trí tuệ nhân tạo toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số.
Các hành vi bị nghiêm cấm khi sử dụng AI tại Việt Nam
Điều 7 Luật Trí tuệ nhân tạo đã quy định về các hành vi bị nghiêm cấm khi sử dụng AI, bao gồm:
- Lợi dụng, chiếm đoạt hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
- Phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng các hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm mục đích sau đây:
+ Thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của luật;
+ Sử dụng yếu tố giả mạo hoặc mô phỏng người, sự kiện thật để lừa dối hoặc thao túng nhận thức, hành vi của con người một cách có chủ đích và có hệ thống, gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con người;
+ Lợi dụng điểm yếu của nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để gây tổn hại cho chính họ hoặc người khác;
+ Tạo ra hoặc phổ biến nội dung giả mạo có khả năng gây nguy hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Nhiều kẻ xấu đang lợi dụng các công cụ AI cho hành vi phạm tội (Ảnh minh họa: AI).
- Thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái với quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng.
- Cản trở, vô hiệu hóa hoặc làm sai lệch cơ chế giám sát, can thiệp và kiểm soát của con người đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định của Luật này.
- Che giấu thông tin bắt buộc phải công khai, minh bạch hoặc giải trình; tẩy xóa, làm sai lệch các thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc trong hoạt động trí tuệ nhân tạo.
- Lợi dụng hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá hoặc kiểm định hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi trái quy định của luật.
Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan đến trí tuệ nhân tạo, tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm thì bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật về dân sự.











