Thứ Hai, 24/08/2009 - 11:16

Nguy cơ khi thụ tinh trong ống nghiệm

Tuy TTTON thường được xem là một kỹ thuật tương đối an toàn nhưng phụ nữ khi tham gia vào chương trình này vẫn có thể gặp một số nguy cơ như thụ tinh thất bại, quá kích buồng trứng, đa thai hay thai ngoài tử cung.

  

Tâm lý thất bại

 

Thất bại trong điều trị vô sinh có thể là một gánh nặng về mặt tâm lý cho người phụ nữ có thể xảy ra ở khâu kích thích buồng trứng, dẫn đến không có hoặc có ít nang. Thống kê cho thấy khi chỉ có 2-3 nang noãn phát triển, tỉ lệ thành công của chu kỳ đó rất thấp. Tình trạng này thường xuất hiện ở những phụ nữ lớn tuổi, lạc nội mạc tử cung, bất thường, nội tiết... Trong trường hợp này, ở những chu kỳ sau, có thể tăng liều thuốc kích thích buồng trứng hoặc thay đổi phác đồ điều trị. Trong một số trường hợp, xin trứng có thể là giải pháp cuối cùng.

 

Thất bại còn có thể do không có phôi để chuyển. Trong trường hợp này, nguyên nhân có thể là do thụ tinh bất thường hoặc không có thụ tinh. Ngoài ra, thụ tinh vẫn có thể xảy ra bình thường, phôi được hình thành nhưng ngưng phát triển. Không ít trường hợp sau chuyển phôi vẫn không có thai vì thất bại trong quá trình làm tổ (phôi không bám được vào niêm mạc tử cung). Đối với những trường hợp này, hướng giải quyết có thể là thụ tinh bằng tiêm tinh trùng vào trứng (ICSI) hoặc tăng số lượng phôi chuyển.

 

Nghiên cứu cho thấy đối với kỹ thuật ICSI, tỉ lệ trứng thụ tinh tăng cao hơn, đặc biệt trong những trường hợp chất lượng tinh trùng kém. Ngoài ra, với những trường hợp liên tiếp thất bại mà nguyên nhân thường được cho là do chất lượng của trứng, giải pháp cuối cùng là xin trứng từ những người còn trẻ.

 

Quá kích buồng trứng và đa thai

 

Tình trạng đáp ứng quá mức của buồng trứng với thuốc kích thích và là một trong những nguy cơ thường gặp nhất của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang là một trong những đối tượng dễ bị quá kích buồng trứng. Trong trường hợp bệnh nhân có nguy cơ cao, chu kỳ TTTON có thể tạm ngưng (không tiêm hCG và không chọc hút trứng). Trong những chu kỳ tiếp theo, bệnh nhân có thể được giảm liều kích thích hoặc được theo dõi sát hơn.

 

Quá trình kích buồng trứng còn có thể xuất hiện ở giai đoạn muộn, khi người phụ nữ có thai, do hCG được tiết ra từ thai nhi. Để dự phòng tình trạng này, phôi hình thành sẽ không được chuyển vào chu kỳ đó mà được trữ lạnh và chuyển lại vào tử cung trong các chu kỳ tiếp theo.

 

Ngoài ra, kỹ thuật “Nuôi trứng trong ống nghiệm”, với lợi điểm là không phải sử dụng hCG, cũng có thể được áp dụng như một biện pháp điều trị vô sinh ở những bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ quá kích buồng trứng, đặc biệt là những bệnh nhân với hội chứng buồng trứng đa nang.

 

Còn đa thai là tình trạng có nhiều hơn một thai cùng lúc phát triển trong tử cung. Không như trong các chu kỳ tự nhiên khi chỉ có 1 phôi (hoặc thỉnh thoảng 2) có mặt trong lòng tử cung, trong các chu kỳ TTTON, để bảo đảm tỉ lệ thành công, nhiều hơn một phôi sẽ được chuyển vào tử cung. Do đó, tỉ lệ đa thai thường tăng cao hơn so với các chu kỳ tự nhiên, thay đổi từ 19-42%, tùy theo tuổi của người vợ.

 

Hiện nay, để giảm tỉ lệ đa thai, chuyển phôi vào giai đoạn trễ, ngày 5 sau thụ tinh, được xem là một trong những biện pháp phòng ngừa có hiệu quả. Tuy nhiên, trong kỹ thuật này, nguy cơ không có phôi để chuyển (do thoái hóa, ngưng phát triển trong quá trình nuôi cấy) thường xuất hiện. Giảm thiểu số lượng phôi chuyển ở những bệnh nhân tiên lượng tốt cũng là một hướng đang được xem xét. Ngoài ra, kỹ thuật giảm thai, thông qua hướng dẫn của siêu âm đầu dò âm đạo, cũng là một phương pháp để giảm tỉ lệ đa thai được áp dụng ở nhiều trung tâm trên thế giới và ở VN.

 

Thai ngoài tử cung cao gấp 2-3 lần

 

Trong các chu kỳ TTTON, thống kê cho thấy tỉ lệ thai ngoài tử cung tăng cao hơn so với những chu kỳ tự nhiên từ 2 đến 3 lần (4-5,8%), đặc biệt trong những trường hợp có bất thường ở vòi trứng. Thai ngoài tử cung là tình trạng thai làm tổ ở một vị trí khác ngoài tử cung, thường là trong vòi trứng. Tuy nhiên, siêu âm và theo dõi thai định kỳ ngay từ giai đoạn sớm sẽ giúp phát hiện và xử trí kịp thời các trường hợp này. Ngoài ra, các tỉ lệ như dị dạng thai nhi và sẩy thai gần như không đổi so với những cặp vợ chồng có thai tự nhiên.

 

TheoBS Đặng Quang Vinh

NLĐ