Trường hợp của chị Tr.T.S (ngụ huyện Thốt Nốt - Cần Thơ),
nhân vật chúng tôi đã đề cập ở bài viết trước, là một câu chuyện buồn kéo dài
hơn chục năm.
“Chắc là ở giá...”
Sau khi làm giấy kết hôn với chồng tại Sở Tư pháp TP Cần
Thơ, chị mòn mỏi chờ chồng bảo lãnh qua Đài Loan trong vô vọng. Cuối cùng, giữa
năm 2005, chị tìm đến TAND TP Cần Thơ xin ly hôn. Tòa yêu cầu phải có ý kiến
của chồng, không có tiền mua vé máy bay qua Đài Loan, chị ky cóp thuê người
phiên dịch gửi thư cho chồng theo địa chỉ trước đây ông ta đưa nhưng bưu điện
trả về vì “địa chỉ trên đã thay đổi”.
Nhiều lần gửi thư vẫn không có kết quả, chị S. đến tòa án để
trình bày thì vẫn nhận được câu dứt khoát: “Phải có ý kiến của chồng”. Năm
2009, chị tiếp tục nộp đơn ra tòa án xin ly hôn nhưng tòa lại trả hồ sơ. Chị
phải nhờ luật sư hỗ trợ các thủ tục cần thiết như nộp đơn tại tòa, chờ Bộ Ngoại
giao gửi hồ sơ ủy thác tư pháp sang cơ quan có thẩm quyền ở Đài Loan thông báo
về việc xin ly hôn của chị. Hai lần ủy thác tư pháp, tòa án không nhận được
phản hồi từ phía Đài Loan, vụ việc lại rơi vào bế tắc. “Tôi đã 33 tuổi, chắc là
ở giá làm lụng nuôi cha mẹ...” - chị S. thở dài.

Một buổi phỏng vấn
đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại Sở Tư pháp TPHCM.
Lấy chồng qua mai mối, sau khi vay nợ để có tiền đoàn tụ
cùng chồng ở Đài Loan, chị H.T.C (ngụ TPHCM) phát hiện chồng vẫn tiếp tục sống
với người vợ cũ. Không chấp nhận cảnh chồng chung, chị C. bỏ về Việt Nam và bị chồng
kiện ra tòa án ở Cao Hùng - Đài Loan. “Vừa ly hôn với tôi xong, ông ta tiếp tục
kết hôn và chung sống với người phụ nữ khác” - chị C. bức xúc.
Do không có điều kiện tham dự phiên tòa tại Đài Loan nên nội
dung bản án ghi nhận gần như toàn bộ lời khai của người chồng, gây bất lợi cho
chị C. Trở về Việt Nam, chị C. nộp hồ sơ theo thủ tục ghi chú ly hôn nhưng bị Sở
Tư pháp từ chối với lý do nội dung trong bản án thể hiện không rõ ràng, buộc
chị phải bổ sung bản sao hộ khẩu của người chồng cũ.
Thế nhưng, người chồng không cung cấp bản sao hộ khẩu nên
chị phải nộp hồ sơ ra tòa án xin được ly hôn. Từ lúc nộp hồ sơ đến khi có bản
án ly hôn kéo dài gần 2 năm do tòa án phải chờ văn bản trả lời về việc ủy thác
tư pháp. Có bản án rồi, chị C. phải chờ thêm 6 tháng để tòa án tống đạt hợp lệ
cho người chồng. Tính ra, phải mất gần 3 năm chị C. mới được tự do.
Không khó để “cởi
trói”
Trao đổi với phóng viên, luật sư Hà Hải (Đoàn Luật sư TPHCM)
cho rằng có nghịch lý là trên cùng một đất nước, cùng một hệ thống pháp luật
nhưng mỗi tòa án lại xử lý khác nhau, gây thiệt thòi cho cô dâu Việt. Trong khi
TAND TPHCM, An Giang, Đồng Tháp… nhận đơn ly hôn của cô dâu Việt với người nước
ngoài thì tòa án các nơi khác như Cần Thơ, Hậu Giang… lại từ chối.
Lý do để các tòa án từ chối là nguyên đơn chưa cung cấp đủ
chứng cứ hợp pháp chứng minh bị đơn đang ở một địa chỉ cụ thể và đã có văn bản
thể hiện ý kiến về việc ly hôn này hoặc không nhận được phản hồi của người
chồng từ việc ủy thác tư pháp… Đặc biệt, có nơi nhận đơn nhưng chỉ để “ngâm”
hoặc đình chỉ với lý do không mời được bị đơn.
Luật pháp Hàn Quốc, Đài Loan - nơi có nhiều cô dâu Việt sinh
sống - đều có chế định về công nhận sự thỏa thuận ly hôn ngoài tòa án. Theo đó,
những vụ ly hôn có yếu tố nước ngoài, cô dâu Việt được yêu cầu ký bản thuận
tình ly hôn, người chồng chỉ việc đăng ký tình trạng đã ly hôn với cơ quan quản
lý hộ khẩu địa phương là đã có thể cưới vợ khác. Trường hợp cô dâu Việt không
ký đơn ly hôn, người chồng có thể kiện ra tòa và không cần ý kiến của vợ, sau
một lần gửi thông báo về địa chỉ thường trú của bị đơn tại Việt Nam (chậm nhất là 6 tháng), tòa án địa
phương sẽ chấp nhận việc ly hôn.
Tại Việt Nam, nhiều trường hợp cô dâu Việt mang bản án ly
hôn, bản thuận tình ly hôn hợp lệ nộp vào sở tư pháp để làm thủ tục ghi chú ly
hôn theo quy định nhưng bị từ chối với lý do thiếu bản sao hộ khẩu hoặc ý kiến
của người chồng. Trong khi đó, theo quy
định, hồ sơ ghi chú không yêu cầu đương sự phải kèm theo bản sao hộ khẩu của
người phối ngẫu hay phải kèm theo bất kỳ nội dung nào khác.
Một thẩm phán của Tòa Dân sự
TAND TPHCM cho biết bất lợi hiện nay là thời gian ủy thác tư pháp quá
lâu. Theo Thông tư liên tịch 15/2011 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương
trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ tư pháp, trung bình, việc
ủy thác là 2 lần, mỗi lần 6 tháng. Nếu hồ sơ ủy thác tư pháp lần đầu không nhận
được phản hồi từ phía nước ngoài thì tiếp tục ủy thác lần 2, thông thường mất 1
năm, sau lần 2 tòa án sẽ làm việc với đương sự. “Tiếc là trên thực tế, thời
gian này thường kéo dài hơn do chờ đợi Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao gửi hồ sơ” -
vị thẩm phán thừa nhận.
Theo luật sư Hà Hải, để giải quyết thực trạng trên, trước
hết, tòa án phải thống nhất nhận đơn xin ly hôn có yếu tố nước ngoài cho dù có
hay không ý kiến của bị đơn là người nước ngoài. Thời gian thụ lý và giải quyết
nên rút ngắn, chậm nhất là 6 tháng theo quy định. “Những trường hợp đã có bản
thuận tình ly hôn; bản án, quyết định của cơ quan thẩm quyền nước ngoài thể
hiện việc ly hôn, sở tư pháp nên nhận hồ sơ và trình cấp thẩm quyền công nhận
việc ly hôn tại Việt Nam”
- luật sư Hà Hải kiến nghị.
|
Quá hạn 7 - 10 năm
vẫn chưa được hồi báo
Thống kê tại TAND TPHCM cho thấy từ ngày 1/1/2006 đến 4/9/2012,
có 298 hồ sơ ly hôn giữa người Việt và người nước ngoài tồn đọng do chờ hồi
báo từ các cơ quan chức năng. Trong đó, 153 hồ sơ quá hạn từ 3 tháng đến 1
năm, đặc biệt có nhiều hồ sơ quá hạn 7 - 10 năm.
Thời gian quá hạn được tính sau 8 tháng kể từ ngày tòa thụ
lý đơn, như vậy, nếu một hồ sơ bị báo quá hạn thì đương sự phải chờ thêm 5 -
7 tháng, đó là chưa kể số án đã xét xử xong nhưng chưa có hiệu lực pháp luật
vì chờ hồi đáp từ nước ngoài.
|
Theo Thu Hồng
Người lao động