Chủ Nhật, 13/05/2012 - 08:23

Không khuyến khích sản phụ thai to đẻ thường

(Dân trí) - Liên quan đến ca tử vong vì thai to do sinh thường, PGS.TS Vũ Bá Quyết, PGĐ BV Phụ sản TƯ, cho rằng: “Tại viện, đã có thai phụ đẻ thường con nặng 4,6-4,8kg. Nhưng chúng tôi không khuyến khích những ca đó đẻ thường vì tiềm ẩn quá nhiều hiểm nguy.
 >>  Tỉ lệ tử vong sản khoa VN gấp 5 lần các nước phát triển

Không khuyến khích sản phụ thai to đẻ thường
PGS.TS Vũ Bá Quyết, PGĐ BV Phụ sản TƯ
PGS.TS Vũ Bá Quyết cũng trao đổi với phóng viên Dân trí xung quanh một số ca tai biến sản khoa gần đây.

Thưa ông, chỉ trong một thời gian ngắn mà liên tiếp có đến 6 ca tai biến sản khoa khiến mẹ chết, con nguy kịch (thậm chí tử vong). Ông đánh giá như thế nào về con số này?

Như Thứ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc BV Phụ sản TƯ đã từng nhận định, đó hoàn toàn có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Còn về tai biến sản khoa, đó là một nguy cơ luôn rình rập người phụ nữ. Các cụ cũng từng nói “chửa cửa mả” tức là nói đến những nguy cơ hiểm nguy thậm chí mất cả tính mạng của thai phụ trong quá trình vượt cạn.

Hiện nay, các tai biến sản khoa không chỉ xảy ra ở Việt Nam, mà trên thế giới, cũng có những tai biến tương tự. Tại Việt Nam, 5 tai biến sản khoa Bộ Y tế công nhận và cảnh báo, đó là tai biến chảy máu, nhiễm trùng, sản giật, vỡ tử cung và uốn ván ối. Đến nay, 5 tai biến này vẫn luôn được cảnh báo và chưa có gì thay đổi nhiều, chỉ có 2 tai biến có xu hướng giảm xuống là uốn ván ối và nhiễm trùng do chương trình tiêm chủng uốn ván cho thai phụ được thực hiện tốt và ngày càng có nhiều loại thuốc kháng sinh tốt.

Còn 3 tai biến còn lại vẫn rất nhiều, đặc biệt nổi lên 2 tai biến là chảy máu và vỡ tử cung. Nhất là tai biến chảy máu, là xu hướng tai biến sản khoa của tất cả các nước. Tại nước ta, đã có ca tai biến sản khoa mất máu phải truyền đến 60 lít máu. Còn ở viện tôi, các ca phải tuyền 20 - 30 đơn vị máu rất nhiều. Đó là những tai biến chỉ có thể giải quyết ở các bệnh viện lớn, gần ngân hàng máu.

Vì sao tai biến chảy máu ngày càng có xu hướng tăng lên, thưa ông?

Tai biến chảy máu có những trường hợp dù đẻ ở viện đầu ngành, ở các nước tiên tiến trên thế giới cũng không tránh khỏ. Xưa các cụ đẻ con thường dưới 3kg, giờ thì những “bé bự” 4kg - 4,5kg rất nhiều. Những ca này hoàn toàn có nguy cơ chảy máu kể cả đẻ thường hay đẻ mổ. Vì thai to, tử cung giãn căng quá gây đờ tử cung, tử cung không thể co lại được, máu chảy. Mặc dù hiện nay có nhiều loại thuốc tốt , kỹ thuật mổ tốt nhưng có những trường hợp, tử cung vẫn đờ, vẫn chảy máu.

Ngoài ra, gần đây người ta nói đến tắc mạch ối. Đâu là một tai biến bất khả kháng, đột ngột, không tiên lượng trước được bởi trong quá trình chuyển dạ, vì lý do nào đó gây tăng áp lực trương lực cơ gây vỡ ối, máu và nước ối tràn vào tuần hoàn người mẹ gây sốc phản vệ.

Ngoài những tai biến trên, ông có thể nói rõ hơn tai biến do thai to?

Tại sao có tai biến thai to? Có người thai 2kg không đẻ thường được, có trường hợp 4kg vẫn sinh thường. Điều đó phụ thuộc vào việc tiên lượng cuộc đẻ của bác sĩ. Người bác sĩ phải khám thai, theo dõi, hỏi tiền sử, khám khung chậu của người mẹ, tiên lượng về cân nặng của thai nhi qua siêu âm, ước lượng lâm sàng, thai trên 3,5kg là thai to.

Liên quan đến cân nặng thai nhi, việc ước lượng cân nặng thai nhi trên lâm sàng cũng có những xác suất nhất định. Ngay tại viện chúng tôi, nhiều ca được bác sĩ khám và chỉ định đẻ thường vì ước tính cân nặng thai nhi chỉ khoảng 3kg, nhưng khi sinh ra lại 4kg. Có những trường hợp bụng mẹ to như thai đôi, tưởng thai to trên 4kg chỉ định mổ thì khi sinh ra, em bé lại chỉ nặng 3kg.
Ông có cho rằng, một phần nguyên nhân tai biến do áp lực cũng như tâm lý bác sĩ muốn bệnh nhân sinh thường?

Bác sĩ sản nói chung, tâm lý ai cũng muốn bệnh nhân đẻ thường vì nó tốt nhất cho mẹ và em bé. Nhưng với những thai to trên 3kg, bác sĩ bất cứ tuyến nào không dại gì cố đỡ đẻ, bắt bệnh nhân đẻ thường. Tai biến thai to này liên quan đến việc tiên lượng cân nặng thai, do bác sĩ không tiên lượng thai to. Còn nếu tiên lượng 4kg thì chắc chắn họ đã mổ. Vì thế phải theo dõi sát trong cuộc đẻ. Nếu cổ tử cung không tiến triển, đầu  thai nhi không xuống thì chỉ định mổ. Tại viện có những ca đẻ thường 4, 6 - 4,8kg, nhưng đây là những trường hợp không tiên lượng con nặng đến vậy, còn không khuyến khích đẻ thường những trường hợp này vì tiềm ẩn nhiều nguy cơ.
 
Không khuyến khích sản phụ thai to đẻ thường
Ảnh minh họa

Tỷ lệ mổ đẻ ở viện ông là bao nhiêu? Sau các ca tai biến này, có nhiều sản phụ xin mổ đẻ không thưa ông?

Tại viện tôi, tỷ lệ mổ đẻ là gần 50%. Nói nôm na ở Hà Nội, cứ hai người phụ nữ thì một người có vết mổ đẻ.

Tâm lý vào viện, sản phụ nào đau đẻ cũng xin mổ. Viện tôi cũng vậy, nhưng không phải ca nào xin cũng mổ vì mổ đâu có an toàn hơn đẻ thường, mổ cũng có tai biến của nó. Nhưng có điều, tai biến do mổ ít bị người nhà sản phụ “thắc mắc”, kiện cao hơn các tai biến do đẻ thường.

Tỷ lệ mổ đẻ tại viện tôi là rất cao, dù Ban giám đốc luôn cố gắng siết chặt tỷ lệ này. Thời gian này, số ca mổ đẻ có vẻ tăng 1 - 2% ở những đối tượng lo lắng quá, ở những người thai to trên 3,5kg.

Còn hiện tại, do tâm lý, lượng thai phụ từ các tỉnh từ Hà Nam, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc… lên thẳng tuyến trên khám đông hơn. Vì thế tỷ lệ xin mổ cũng tăng nhưng khi có ca xin mổ, chúng tôi luôn có bác sĩ kiên trì giải thích, tư vấn để sản phụ yên tâm theo dõi, nếu có vấn đề gì sẽ mổ ngay. Chúng tôi giải thích thì đa phần người bệnh nghe vì viện chúng tôi có uy tín, có phương tiện, máy móc theo dõi, đánh giá, tiên lượng… nếu đau đã có phương pháp giảm đau.

Thai phụ cũng không nên quá lo lắng tới các tai biến và cần theo dõi quá trình mang thai ở các cơ sở y tế chuyên khoa. Sau những sự việc xảy ra đã cảnh báo cho các bệnh viện, các cơ sở y tế cần quan tâm đến bệnh nhân. Vì thế bệnh nhân không nên quá lo lắng đổ xô lên trung ương khám, ào ào xin mổ đẻ. Vì không gì tốt nhất bằng đẻ thường.

Là bệnh viện tuyến đầu ngành, là Trung tâm đào tạo, ông có nhắn nhủ gì tới các bác sĩ sản tại viện cũng như tuyến cơ sở?

Đã là bác sĩ luôn phải trao dồi chuyên môn, tự rút kinh nghiệm cho bản thân sau mỗi trường hợp và phải luôn đọc sách, nâng cao năng lực chuyên môn. Không bác sĩ nào có thể tự nói mình giỏi vì nghề y rất đặc thù, mỗi bệnh nhân là mỗi hoàn cảnh, bệnh lý khác nhau. Vì thế, bác sĩ phải luôn luôn tự học, tự rút kinh nghiệm qua chính những bệnh nhân mình đã khám, chữa cho họ mới có thể nâng cao trình độ của mình.

Xin cảm ơn ông!

Hồng Hải (thực hiện)