Quang cảnh “Vietnam Park”
Duờng như thời gian cũng làm nó thay đổi nhiều, không chỉ cây cối ngày một xanh tươi hơn, không khí ngày càng trầm lắng hơn mà có lẽ cái ý tưởng khiến nhà thiết kế, một nữ kiến trúc sư gốc Hoa đã đoạt giải khi tuổi còn rất trẻ, muốn tạo điểm nhấn là bức tường lưu danh những tử sĩ bằng đá đen lẩn mình trong lòng đất như một vết cứa của chiến tranh vào da thịt nước Mỹ. Con đường và bức tường gấp khúc tựa hình chữ “V” nói lên rằng sau lúc trầm sẽ có lúc bổng, còn nếu được hiểu là “chiến thắng” thì đó là sự chiến thắng hoàn cảnh của chính mình.
Vết thương ấy không bao giờ biến mất trên cơ thể và ký ức của người dân và lịch sử nước Mỹ, nhưng ngày một lành lặn nhờ sự chia sẻ của mọi thế hệ, nhờ cây cối ngày càng xanh tươi... Mười năm trước, năm 2003 lần đầu tôi đến nơi này. Người tôi gặp đầu tiên là hai cựu binh đứng ở ngay điểm khách vào. Thấy tôi là người Việt Nam họ lại gần như để sẵn sàng hướng dẫn. Biết tôi là người từ Việt Nam qua, họ càng ân cần như muốn tỏ một thông điệp nào đó về cuộc chiến tranh khiến đồng đội của họ phải chết.
Đó là hai cựu binh từng có mặt trên chiến trường miền Tây Nam Bộ gì đó, họ sớm bị thương và sớm rời khỏi mặt trận. Họ cho đấy là sự may mắn vì vậy họ càng thấy có trách nhiệm với những đồng ngũ không may mắn. Họ làm tình nguyện viên, theo lịch đến tham gia hướng dẫn khách thăm khu tưởng niệm.
Không hiểu trong câu chuyện, chúng tôi diễn đạt vụng về thế nào mà sự nhạy cảm của hai tình nguyện viên Mỹ ngầm hiểu rằng khách đến từ Việt Nam muốn hỏi vì sao lại tôn vinh một cuộc chiến tranh mà ngay chính giới Mỹ cũng không nói đến từ “chiến thắng”. Nó không giống khu tưởng niệm cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ Hai cách đó không xa, biểu trưng của nước Mỹ cùng Đồng Minh chiến thắng chủ nghĩa phát xít và góp phần giải phóng nhiều quốc gia trên nhiều lục địa, trong đó có cả Việt Nam...
Hai anh bạn cựu chiến binh Mỹ ôn tồn giải thích, mà khi nghe xong lời dịch tôi giữ mãi trong lòng: “Bạn muốn hỏi rằng đây là nơi tôn vinh những người chiến thắng hay chiến bại ư? Không, ở đây chỉ tôn vinh những công dân gương mẫu, những người Mỹ ái quốc, họ đã thực hiện đúng nghĩa vụ công dân khi Tổ quốc yêu cầu. Còn trách nhiệm về sự thắng hay thua thì thuộc về nơi kia”. Họ chỉ tay về phía nhà Quốc hội nơi cái mái vòm có thể trông thấy ở phía xa, và họ còn muốn nói đến cả Nhà Trắng hay Lầu Năm Góc nơi nắm giữ quyền lực và vận hành bộ máy chiến tranh: “Nơi đây sẽ tồn tại mãi mãi như những bài học, nó có thể làm thay đổi các chính phủ từ những bài học đắt giá này”.
Tôi nhớ, thời điểm đó, tôi là thành viên của một nhóm đại biểu Quốc hội Việt Nam qua Mỹ làm quen với cái việc vẫn gọi là “vận động hành lang”. Khi trở về, tổng kết chuyến đi, có cả đại diện Ban Tư tưởng Văn hoá tham dự, lại là một anh bạn học, tôi có nhắc đến khu tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam và cả câu nói của anh cựu chiến binh Mỹ với lời bình luận rằng bên ấy không có ban bệ như ở ta, nhưng họ làm công tác tư tưởng cũng giỏi lắm, khu tưởng niệm lúc nào cũng đông người, nghiêm trang nhưng lại thân thiện... Hôm ấy, anh bạn tôi có vẻ phật lòng...
Lần này trở lại “Vietnam Park”, tôi không còn thấy có những tình nguyện viên cựu chiến binh như đã gặp trong những chuyến thăm trước. Giật mình nhận ra rằng, cuộc chiến tranh đã kết thúc sắp tròn 40 năm rồi, theo cái mốc mà lịch sử nước Mỹ ghi nhận, thực sự bắt đầu từ 1965 khi lục quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng 1965 và kết thúc sau Hiệp nghị Paris ký đầu năm 1973, khi quân Mỹ rút toàn bộ lực lượng tham chiến trực tiếp về nước... Hai tình nguyện viên từng tham chiến vào giữa thập kỷ 60 của thế kỷ trước, đến nay nếu còn sống hẳn cũng là U80 hay 90 rồi!
Thời gian và thời cuộc nữa tạo nên những đổi thay của lịch sử. Sau câu chuyện cảm động về cuốn “Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm”, rất nhiều câu chuyện cảm động đã nối tiếp đánh thức lòng người... Và mới đây nhất, câu chuyện về một cựu binh Mỹ, anh Homer Steedly sau hơn bốn thập kỷ day dứt, đã quyết định trở lại Việt Nam để tìm gặp và hướng dẫn gia đình một cựu binh Việt Nam tên là Huỳnh Ngọc Đản mà chính anh ta đã hạ sát trong cuộc đụng độ đối mặt từ năm 1969, để đi tìm phần hài cốt và trả lại những kỷ vật của người đã khuất... Điều này làm tôi nhớ đến một bài diễn văn của cựu Đại sứ Mỹ đầu tiên, ông Peterson, đã từng rơi vào hoàn cảnh máy bay của mình bị bắn rơi, đã đi tìm lại người nông dân năm xưa đã cứu vớt mình khỏi chết đuối, đã nhắc đến sự kiện cách đây khoảng hơn mười năm, khi một chiếc trực thăng chở đoàn công tác hỗn hợp Mỹ-Việt đi tìm hài cốt của phi công Mỹ chết trong vùng rừng núi Nam Trung Bộ đã gặp nạn. Tất cả những thành viên người Mỹ và Việt đều hy sinh trong một sứ mệnh chung, một sứ mệnh cao cả, theo ông, phải chăng đó là cái mốc lịch sử của sự hoà giải giữa hai cựu thù của một cuộc chiến tranh (?!).
Bây giờ, ở “Vietnam Park” gần bức tường tưởng niệm các quân nhân Mỹ bị chết ở Việt Nam vẫn dựng một cột cờ trên đó treo lửng theo tang chế, lá quốc kỳ của Hợp chủng quốc và một lá cờ biểu tượng cho việc tìm kiếm các quân nhân bị mất tích (MIA) và các tù binh thời chiến (POW) với thông điệp “họ không bao giờ bị quên lãng”. Thì mới đây, trong chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, chủ và khách gặp nhau cũng đã trao cho nhau những thông tin và kỷ vật của quân nhân hai bên đã mất tích trong cuộc chiến này.
15 năm trước, năm 1997, tôi có dịp sang New York để dự cuộc gặp mặt giữa hai nhóm cựu chiến binh của Việt Minh và của Nhóm tình báo-biệt kích OSS Mỹ. Họ gặp nhau và hàn huyên câu chuyện năm xưa cùng hợp tác, nhảy dù xuống Việt Bắc, lập Đại đội Việt-Mỹ, xuất quân trong Đại hội Quốc dân Tân Trào để tiến đánh phát xít Nhật ở Thái Nguyên... Cách đó 2 năm, chỉ vài tháng sau khi Tổng thống Mỹ Bill Clinton thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước (1995), nhóm cựu binh OSS này đã là những sứ giả sớm nhất sang Việt Nam để cùng tổ chức kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội Thân hữu Việt-Mỹ ra đời như tổ chức hữu nghị sớm nhất của nước ta với các nước trên thế giới (9.1945).
Lần gặp lại ở New York, tôi được tham dự cuộc “giao lưu” tại Hội quán Hội Á châu. Ngoài thành phần hai nhóm cựu chiến binh Việt-Mỹ, khách đến dự đông nhất lại là các quan chức và nhân viên Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ, vì lẽ, OSS chính là tiền thân của CIA. Có một câu hỏi không dễ trả lời là vì sao đang là đồng minh lại trở thành đối thủ?
Cách đây 7 năm, Thủ tướng Phan Văn Khải thực hiện chuyến thăm chính thức của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam tới Hoa Kỳ. Tôi được chứng kiến đêm “gala” cảm động diễn ra tại thành phố Boston, chặng dừng cuối cùng của đoàn Việt Nam kết thúc chuyến đi thăm lịch sử.
Về phía khách, có hai nhân vật cùng mang tên Mc Govern. Một người trẻ tuổi hơn là một nhà doanh nghiệp lớn, chủ nhân của MIT nổi tiếng đang tiên phong đầu tư vào Việt Nam (IDJ) và một người, vào thời điểm ấy, sắp bước vào tuổi 90, một thượng nghị sĩ nổi tiếng của bang Massachusett từng là ứng cử viên tổng thống tranh cử với Nixon năm 1972.
Nhà doanh nghiệp trẻ, người đăng cai bữa “gala” cầm trên tay tấm bích chương mà tôi chụp từ bản gốc của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam vốn là phụ bản của tờ báo do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và có thể chính người đứng đầu Mặt trận Việt Minh đã tự tay thể hiện trên tấm giấy in thạch mầu này 8 bức vẽ liên hoàn hướng dẫn dân chúng cách cứu phi công Mỹ bị phát xít Nhật bắn rơi để Việt Minh trao trả cho Đồng Minh. Kèm theo còn có hình “cờ hoa” của Mỹ và cờ đỏ sao vàng của Việt Minh đặt 2 bên câu thơ tựa đồng dao: “Bộ đội Mỹ là bạn ta - Cứu phi công Mỹ mới là Việt Minh”.
Mc Govern trẻ hào hứng giơ tấm bích chương lên nói rằng: “Xưa Việt- Mỹ hợp tác chống phát xít thì nay càng phải hợp tác vì lợi ích của hai quốc gia chúng ta”.
Bìa cuốn truyện tranh về chiến tranh Việt Nam
Đến lượt vị nghị sĩ già, ông giải thích vì sao ông chống cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, đơn giản bởi vì khi là phi công tham gia cuộc chiến chống phát xít Nhật ở Đông Nam Á, ông được cấp trên thông báo rằng nếu máy bay bị bắn rơi sẽ có lực lượng của Hồ Chí Minh cứu. Vì thế không thể tiến hành chiến tranh với những người đồng minh cũ. Ông cũng hào sảng nói rằng, năm 1972 ông đã thua Nixon trong cuộc tranh cử Tổng thống, thì bây giờ ông cảm thấy mình và các cử tri trong tiểu bang Massachusett của mình mới là người chiến thắng trên chặng đường “maraton” của lịch sử. Chiến tranh đã thua, hoà bình và hữu nghị đã thắng...
Ký ức của những lần đến nước Mỹ theo thời gian và thời cuộc dường như ngày một nói lên điều gì đó. Những lần sang đây, tôi thường đến các hiệu sách sưu tầm các công trình nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam từ phía Mỹ. Đã có rất nhiều công trình đồ sộ của các cơ quan và cá nhân các nhà nghiên cứu đã được công bố. Nhiều cuốn sách có giá trị như các bộ từ điển, các công trình biên niên hay tập hợp tư liệu lịch sử, và đặc biệt là các hồi ký của những người từng tham chiến... Rồi những thông tin được công bố sau mỗi đợt “giải mật” của các cơ quan lưu trữ càng làm quá khứ ngày một sáng tỏ con đường cần đi giữa hai dân tộc. Ngay cả “Vietnam Park” cũng nói lên điều đó.
Rất gần “Vietnam Park” là công trình tưởng niệm Tổng thống Abraham Lincohn, cha đẻ của nguyên lý về một “nhà nước của dân, do dân và vì dân”. Lần này đến viếng Ngài, may mắn tôi mua được trong gian bán đồ lưu niệm một cuốn sách nhỏ. Đó là cuốn sách về “Cuộc chiến tranh Việt Nam” (The Vietnam War) nhưng lại theo thể loại tranh truyện (a graphic history) thích hợp phổ biến cho giới trẻ, xuất bản năm 2009.
Cuốn sách dày không đến 150 trang khổ trung bình, ruột in đen trắng, mỗi trang có chừng từ 3 đến 4 hình ảnh nối kết nhau liên hoàn với lời thoại theo dạng tranh truyện. Sách bắt đầu từ “Vietnam Park” rồi cũng kết thúc ở đó như một câu chuyện lịch sử có hồi đầu và kết. Các nhân vật lịch sử của cả hai bên đều được mô tả, các sự kiện chính không bị bỏ qua, cách viết và vẽ hấp dẫn bằng ngôn ngữ tranh truyện nói về một cuộc chiến tranh ác liệt tuy rất ít con số...
Người có hiểu biết thấy các tác giả, người viết (DJ Zimmerman) và người vẽ (W Vansant) muốn chuyển tải một cách khách quan một sự việc đã qua. Tuy nhiên, đó là câu chuyện đưa ra không để quên. Bởi lẽ bìa lót của sách là bản danh sách hơn năm vạn tám ngàn người lính Mỹ đã chết. Ngay trên trang đầu của câu chuyện, gắn với nét vẽ hai người nữ y tá và một người lính đang bị thương ngoài mặt trận đang ngửa mặt lên trời mong sự cứu giúp, trích đoạn các nhân vật từ một trong hai nhóm tượng đồng đặt tại Vietnam Park là mấy câu trích nhiều ý nghĩa. Đó là câu của cựu Tổng thống Bush (bố) khi mở chiến dịch “Bão táp sa mạc” tấn công Iraq (1991): “Tôi muốn nói với nhân dân Mỹ rằng... nó (cuộc chiến ấy) sẽ không trở thành một Việt Nam khác” và câu của Thượng nghị sĩ Edward Kennedy về cuộc chiến tranh gắn với Tổng thống Bush (con) (2004): “Iraq chính là một Việt Nam của Georges Bush”...
Tôi đưa cuốn tranh truyện này cho một bạn trẻ Việt Nam đang học ở Mỹ, ở độ tuổi đôi mươi, ra đời khi cuộc chiến đã kết thúc từ lâu. Anh bạn trẻ đọc xong đưa ra lời nhận xét: “Đúng là một câu chuyện đã qua”. Khi người trẻ nhận ra lịch sử là cái đã qua thì cũng là lúc lịch sử bắt đầu thay đổi...
Theo Dương Trung Quốc
Lao Động