Trả lời phóng viên, ông Đặng Kim Chung, phó viện trưởng viện này cho biết:
Cuộc điều tra được thực hiện vào tháng 8/2011 tại 3.500 hộ gia đình với sự phối hợp của tập đoàn Manpower. Điều dễ nhận thấy ở thị trường lao động TP.HCM là thời gian thất nghiệp của lao động khá ngắn, đặc biệt là thanh niên. Chiếm tỷ lệ nhiều nhất là những người có thời gian thất nghiệp dưới một năm (44,44%). Số người thất nghiệp từ 1 – 2 năm là 33,33%, và số người thất nghiệp từ 2 – 3 năm khoảng 10%. Khu vực phi kết cấu (khu vực phi chính thức, không có hợp đồng lao động – PV) ở đây khá lớn và là lưới đỡ tốt cho người lao động. Điều đáng ngạc nhiên là mức thu nhập của người lao động trong khu vực phi kết cấu lại khá cao.
Thưa ông, kết quả nghiên cứu được thực hiện trong năm 2011 – năm kinh tế suy giảm, nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa. Năm 2012 được dự báo lại là một năm kinh tế khó khăn nữa. Trong khi đó, kết quả khảo sát lại khẳng định thất nghiệp chỉ là tạm thời?
Chúng tôi có khảo sát lý do thất nghiệp, có tới 3/4 số người thất nghiệp chủ yếu là thanh niên mới ra trường chưa tìm được việc làm phù hợp, còn lại những người chuyển việc chủ yếu là muốn tìm công việc khác có thu nhập tốt hơn. Chỉ có khoảng 10% số lao động thanh niên thất nghiệp do khó khăn từ nền kinh tế khiến doanh nghiệp phải giải thể, hoặc cắt giảm lao động. Cầu lao động của thị trường này vẫn lớn, do vậy người lao động dễ dàng tìm một việc làm khác, kể cả là việc làm trong khu vực phi kết cấu.
Cầu lao động vẫn lớn nhưng thực sự người thất nghiệp vẫn có xu hướng tăng như đánh giá. Điều gì khiến cung và cầu chưa gặp nhau?
Chúng tôi khảo sát rất kỹ những người thất nghiệp. Khó khăn lớn nhất để họ tìm được việc làm phù hợp và thoả mãn là mức lương. Có tới gần 50% số người thất nghiệp chưa tìm được việc làm là do mức lương chưa được mong muốn, gần 35% số người thất nghiệp do trình độ, kinh nghiệm chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, còn lại là các lý do khác như: nhà xa, công việc không ổn định… Như vậy thất nghiệp hoàn toàn không phải do thiếu chỗ làm mà do chưa có sự gặp nhau giữa nhà tuyển dụng và người lao động. Phần lớn thất nghiệp là tạm thời, tự nguyện.
Có một phát hiện thú vị trong báo cáo, đó là lao động tốt nghiệp trung cấp hầu hết ra trường chỉ được tuyển dụng vào làm việc giản đơn, nếu không chấp nhận công việc giản đơn thì sẽ thất nghiệp. Vậy việc đào tạo trung cấp là lãng phí?
Đó là một phát hiện đáng suy nghĩ. Hầu hết lao động tốt nghiệp trung cấp nếu được tuyển dụng thì phải chấp nhận làm công việc giản đơn, không cần trình độ. Trong khi đó, để được đào tạo trung cấp, người lao động phải mất hai năm với khoản học phí từ 6 – 10 triệu đồng/người. Đây là sự lãng phí lớn cho xã hội và người lao động.
Thực tế doanh nghiệp vẫn kêu là không tuyển được lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trong khi lao động được đào tạo đang phải làm công việc giản đơn, thưa ông?
Thực tế cho thấy có tới 23% người sử dụng lao động tham gia khảo sát cho là người lao động được đào tạo bị lệch so với các kỹ năng mà thị trường cần, 35% cho rằng các kỹ năng được đào tạo của lao động mới chưa phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Đây là vấn đề cần phải định hướng lại. Trong khi các trường vẫn đào tạo, người lao động phải trả tiền để học và tốt nghiệp phải làm công việc giản đơn, thì các doanh nghiệp vẫn không tuyển được lao động theo nhu cầu. Như vậy cần có sự kết nối giữa nhà trường và nhu cầu của doanh nghiệp chặt chẽ hơn, để hạn chế sự lệch pha này và làm giảm sự lãng phí cho xã hội như cách đang làm hiện nay.
Theo Tây Giang
SGTT