Phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ trong điều kiện biến đổi khí hậu

(Dân trí) - “Tiềm năng và thế mạnh của vùng ĐBSCL trong giai đoạn mới vẫn là nông nghiệp và nguồn nhân lực dồi dào. Vì vậy, nghiên cứu đánh giá để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng là rất quan trọng”.

Trên đây là nhận định của ông Nguyễn Phong Quang - Phó trưởng Ban Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ - tại hội thảo “Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên môi trường, kinh tế- xã hội và đề xuất luận cứ khoa học công nghệ, phục vụ chiến lược phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” do BCĐ Tây Nam Bộ phối hợp với Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức tại TP Cần Thơ vào ngày 22/3.
 
Ông Nguyễn Phong Quang cho biết: ĐBSCL là vùng có lợi thế nhất so với cả nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, có nguồn lao động dồi dào và thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn để phát triển kinh tế. Qua 10 năm (2001-2010), GDP của toàn vùng tăng từ 7% lên 11%; lĩnh vực nông, lâm ngư nghiệp phát triển khá toàn diện. Những năm qua, vùng được Trung ương quan tâm đầu tư 3 lĩnh vực trọng điểm, đột phá là: phát triển hạ tầng giao thông, thủy lợi, giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực. Đến nay, cả 3 đều đã đạt được những kết quả quan trọng.
 
Tuy nhiên, theo ông Quang, ĐBSCL vẫn còn phát triển chậm so với các vùng, miền khác trong cả nước: nông nghiệp là thế mạnh nhưng chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế; luôn bị thách thức đe dọa bởi nhiều yếu tố, nhất là biến đổi khí hậu và nước biển dâng; các mặt hàng nông sản chủ lực chưa tạo được thương hiệu và cạnh tranh mạnh trên thị trường các nước; quy mô công nghiệp nhỏ, giá trị sản xuất thấp, chủ yếu công nghiệp địa phương; công nghiệp công nghệ cao chậm phát triển; thu hút đầu tư trong vùng chưa nhiều, nhất là thu hút đầu tư nước ngoài còn thấp; chất lượng giáo dục đào tạo và dạy nghề trong vùng còn thấp, nhất là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao…

Phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ trong điều kiện biến đổi khí hậu
Chủ tịch Viện KHXH Việt Nam- GS.TS Nguyễn Xuân Thắng đang trình bày đề án nghiên cứu phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ tại hội thảo

Trong khi đó, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng- UVTWĐ- Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, cho hay: Thời gian qua, đã có rất nhiều nghiên cứu về sự phát triển bền vững vùng ĐBSCL của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Tuy nhiên qua những nghiên cứu đã có cho thấy, chưa có bộ cơ sở dữ liệu ở cấp quốc gia cập nhật về vùng Tây Nam Bộ; chưa có một nghiên cứu đánh giá tổng thể ở cấp quốc gia về mọi mặt của vùng Tây Nam Bộ mang tính chiến lược, dài hạn, dựa trên cách tiếp cận về phát triển bền vững vùng; chưa có một nghiên cứu định hướng phát triển bền vững cho toàn vùng Tây Nam Bộ đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, phù hợp với bối cảnh phát triển mới. 

“Chính vì thế, tính cấp thiết phải thực hiện nghiên cứu đề án phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 bởi Đảng và Nhà nước nhận định vị thế quan trọng của vùng Tây Nam Bộ và đặt ra yêu cầu phải phát huy các tiềm năng, thế mạnh của vùng, tạo ra sự chuyển biến lớn để vùng phát triển ổn định. Sự phát triển của vùng sẽ góp phần to lớn để đạt các mục tiêu về phát triển bền vững của quốc gia trong tương lai”- GS.TS Thắng nhấn mạnh.

Theo GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, vùng Tây Nam Bộ vẫn còn gặp rất nhiều thách thức trong thời gian tới: nền kinh tế vùng tăng trưởng chưa ổn định và chưa vững chắc; chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn thấp; sản phẩm du lịch của vùng bị trùng lắp, khó khăn trong việc thu hút khách và giữ khách; nguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng rất thấp, thiếu cả đội ngũ công nhân kỹ thuật lẫn chuyên gia; toàn bộ hệ thống giao thông chưa được quy hoạch một cách tối ưu dẫn đến khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước còn hạn chế; các nguồn tài nguôn thiên nhiên được sử dụng thiếu hiệu quả và đang có nguy cơ cạn kiệt và suy thoái; dân số đông nhưng cuộc sống còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao; ĐBSCL được đánh giá là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng; hoạt động liên kết, hợp tác giữa các tỉnh thành trong nội bộ vùng và vùng với bên ngoài vẫn còn những hạn chế nhất định…

Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng: Các luận cứ cho phát triển bền vững vùng phải quan tâm đến ba khía cạnh quan trọng và có quan hệ mật thiết: kinh tế, xã hội và tài nguyên môi trường. Theo GS.TS Thắng, bền vững về mặt kinh tế đòi hỏi việc đáp ứng các nhu cầu và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người; về mặt văn hóa- xã hội đáp ứng mọi nhu cầu như giao tiếp, an ninh và trợ giúp, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, tiếp cận với các dịch vụ xã hội, đảm bảo chất lượng dịch vụ công và sự tham gia của dân cư vào hoạch định quá trình phát triển; về mặt tài nguyên môi trường sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn nguồn lực tự nhiên, bao gồm cả các hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học.

GS.TS Nguyễn Xuân Thắng cho hay: Đề án nghiên cứu phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ có 8 nội dung chính và được thực hiện trong 5 năm (2012-2016): Nghiên cứu đánh giá 25 năm phát triển kinh tế vùng (1986-2011); đánh giá thực trạng xã hội- văn hóa trong thời gian qua; thực trạng tài nguyên- môi trường; thực trạng liên kết vùng; đánh giá tổng hợp tài nguyên, môi trường, kinh tế, xã hội theo quan điểm phát triển bền vững; cảnh báo thiên tai do tác động của biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp ứng phó; dự báo các xu hướng vận động và các nhân tố tác động đến phát triển bền vững vùng đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030; quan điểm, phương hướng, mục tiêu và giải pháp phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030.

Cũng trong buổi hội thảo, Phó trưởng ban Thường trực BCĐ Tây Nam Bộ Nguyễn Phong Quang đề nghị Viện Khoa học xã hội Việt Nam tiếp tục nghiên cứu đề xuất Chính phủ có cơ chế, chính sách đặc thù cho lúa gạo, cá tra, tôm và trái cây, làm sao giúp người nông dân sản xuất có lãi và góp phần phát triển kinh tế vùng ĐBSCL bền vững trong thời gian tới.

                                                                                    Huỳnh Hải