Vượt qua thảm trạng và tái cấu trúc

Dân trí Thay vì dịch traumatisme thành chấn thương và resilience ra khả năng phục hồi, bài này đề nghị dịch hai chữ nói trên bằng khái niệm "thảm trạng" và khái niệm "tái cấu trúc cho bản thân và tái lập liên hệ xã hội", hai khái niệm của lĩnh vực tâm lý xã hội.

Còn nhiều trẻ em bị bỏ rơi, bị hành hạ, là những vêt thương khó lành. (Ảnh minh họa)
Còn nhiều trẻ em bị bỏ rơi, bị hành hạ, là những "vêt thương" khó lành. (Ảnh minh họa)

Con người là một con vật biết suy nghĩ, có khả năng trí tuệ và có trí nhớ. Nhưng chính những khả năng này làm cho con người, trong thiên nhiên, «mỏng manh» hơn các thú vật: tâm lý con người dễ bị thương tổn và các chấn động có thể là những vết thương khó lành.

Một cái tang (mất đi một người thân, một chỗ dựa, như chính một phần của thân thể ta), một biến cố thiên nhiên (động đất, sóng thần – như thời sự gần đây cho ta thấy với hàng trăm hay hàng ngàn nạn nhân), một tai nạn nghiêm trọng, một biến cố lịch sử (thí dụ nạn diệt chủng Do thái của Đức quốc xã hồi Thế chiến thứ II)... trong đó ta phải trực diện với cái chết, hoặc khi chính ta là nạn nhân của bạo lực, nhất là bạo lực giới tính, bạo lực đối với trẻ em... những thảm trạng ấy làm thương tổn và khó quên.

Hai bà Emmy Werner và Ruth Smith, tâm lý gia người Mỹ, từ đầu thập niên 1950 đến năm 1982 đã theo dõi, ở Hawaï, 700 trẻ em bị bỏ rơi, đã không được đi học, lại là nạn nhân của bạo lực thể xác và giới tính. Ba mươi năm sau, nhóm trẻ này, phần đông, trở thành người lớn không phương hướng, một loại "thân tàn ma dại", sống lê, hết tin tưởng ở mình và mất tin cậy nơi người đối diện. Thế nhưng, lạ lùng là 28% trong số họ đã học được một nghề, lập gia đình và không bị bệnh tâm lý nặng mà có thể sống gần như là bình thường.

Chính những người thoát khỏi "định mệnh" này đã giúp hai bà xác định được những phương thức của sự vượt qua số phận cùng cực. Bà Werner và bà Smith cho ra đời khái niệm "tái cấu trúc tâm lý bị thương tổn sau thảm trạng" để chỉ những trường hợp, mặc dù vô vàn khó khăn khổ sở, một số người có thể khắc phục được và sống bình thường sau đó.

Những người này sở dĩ đã vượt lên thảm trạng là nhờ có khả năng bấu víu vào, nhờ tình cờ của cuộc sống, trong một thời điểm nào đó, một bàn tay hiền lành cứu trợ (một cha sở nhà thờ, một cán sự xã hội, một nhà báo, một nhiếp ảnh gia, một người láng giềng...) hay nhờ một sự kiện bất ngờ (được khẩn cứu nơi một bệnh viện và được sự tận tình của nhân viên bệnh viện sau đó)...

Danh sách những cấu thành giúp tái cấu trúc rất dài, một cách sơ lược ta có thể kể:

. những khả năng nội tại của mỗi cá nhân: trí thông minh, biết tự trọng, khả năng có thể thân thiện với người chung quanh, biết khôi hài...

. nền tảng đã hấp thụ được của gia đình nguyên thủy, nếu có, lúc trước đó.

. sự giúp đỡ của xã hội, môi trường sống của một lúc nào đó (một người lớn tận tình hảo tâm, một cha đạo, một giáo viên hay một cán sự xã hội... như đã nói ở trên)

Nếu tất cả hay đa số các yếu tố này cùng tác động thì sự tái cấu trúc sẽ hoàn hảo hơn.

Nhưng các nhà tâm lý học nghiên cứu về vấn đề này đều thống nhất ở một điểm : chính nạn nhân của những thảm trạng phải tự cứu mình thì "vết thương" mới lành hẳn, không sợ một ngày nào đó lại rướm máu. Môi trường xã hội là tối cần thiết - nhưng chỉ là phương tiện - hay là điều kiện - cần chứ chưa đủ.

Phải chữa thảm trạng. Nếu không thảm trạng có thể tiếp tục qua thế hệ con cái.

Một nghiên cứu gần đây (Jonathan Seckl và cộng sự) theo dõi trường hợp của 170 phụ nữ mang thai, nạn nhân những chấn động mạnh trước đó. Những bà mẹ này đã cho ra đời những trẻ nhẹ cân hơn trọng lượng trẻ sơ sinh bình thường (có khi nhẹ hơn đến gần 50%), vòng đầu cũng nhỏ hơn (kém hơn 24%). Vùng trán và limbic của não các cháu bé, qua scanner, cho thấy là kém phát triển.

Nhưng sau đó, một môi trường sống an toàn và thích ứng tốt nhất đã giúp các bé phát triển các mạch điện não cần thiết cho cảm xúc, trí nhớ và khả năng tiếp cận (cũng qua scanner não bộ mà các nhà nghiên cứu đã kiểm chứng).

Mặt khác, các nhà tâm thần học cũng thống nhất rằng khó khăn của cuộc sống lúc trưởng thành thường có nguồn gốc trong quá khứ, của thời niên thiếu.

Trở về thảm trạng, ta có thể kể thí dụ của chính cá nhân ông Boris Cyrulnik, một bác sĩ tâm thần nổi tiếng, vốn là người sống sót của chiến tranh diệt chũng Do thái. Ông cũng đã phân tích sự tái cấu trúc tâm lý sau chấn động, một quá trình dài và phức tạp nhưng một cách tích cực ông gọi đó là "nghệ thuật lèo lái qua các thác nước đổ".

Ông kể chuyện của những người sống sót sau nạn Holocaust, những trẻ đường phố, những trẻ bị bạo hành... và cho tất cả các trường hợp này, đó là những người giúp tái cấu trúc, như những bà tiên hiền lành ra tay cứu độ, hay nói đúng hơn những điểm tựa giúp người bị chấn thương dựa vào đó để không bị cuốn theo lốc, để hướng lên, để hiểu những khó khăn của mình, từ từ tự tìm cách băng lành các vết thương tâm lý và để cuối cùng mĩm cười nói, như ông Cyrulnik, rằng tôi đã trải qua "một bất hạnh kỳ diệu".

Nguyễn Huỳnh Mai
Liège, Bỉ

Sách tham khảo:

Cyrulnik B., Un merveilleux malheur, NXB Odile Jacob, 1999.

Lecomte J., Guérir de son enfance. NXB Odile Jacob, 2004.

Tisseron S., La résilience. NXB Presses Universitaires de France, 2007.

Werner E. và Smith R., Journeys from Childhood to Midlife: Risk, Resilience, and Recovery. NXB Cornell Univ. Press, 2001.

_________________________________________

*Mọi liên hệ về bài tin với chuyên mục Khoa học, xin gửi đến

email: thaolam@dantri.com.vn