Nheo mắt nhìn thế giới là tập thơ thứ 9 của nhà thơ Bằng Việt (kể cả in chung và tuyển). Kể từ giọng thơ tự sự trữ tình đằm thắm, tinh tế và thi sĩ của Hương cây, bếp lửa (in chung với Lưu Quang Vũ, 1968) đến Nheo mắt nhìn thế giới là tròn 40 năm. 40 năm của một giai đoạn nhiều biến động, những thăng trầm, nghiệt ngã va đập vào những thi tứ và sự lao động sáng tạo.
Ở Nheo mắt nhìn thế giới, Bằng Việt ý thức rất rõ trong việc “trình làng” một cách nhìn. Âm hưởng “thức ngộ”, suy tư; dưới con mắt ngờ vực và soi chiếu hiện thực, hiện thực đắng đót để tìm đến bản chất, tìm đến những chiều kích khác của sự vật, hiện tượng tưởng như đã mặc định, là mãi mãi tươi đẹp của cái ngày hôm qua; cả những nỗi niềm day trở đến nghẹn đắng của ngày hôm nay.
Cái nheo mắt ấy có một chút kiêu, có cả những bi hài, trào lộng, mỉa mai một cách trực diện, không giấu giếm, ở cả những mối quan hệ tình cảm không còn là cá biệt của một lớp “Vợ thời @”; đồng cảm với “Mẹ thời @ còng” của Nguyễn Trọng Tạo. Và giọng điệu ấy xuyên suốt trong cấu trúc của cả tập thơ. Nói cách khác, tập thơ là tổng thể khá hoàn chỉnh, khá tập chung tư tưởng chứ không là tập thơ “góp”, là cái nong phơi thập cẩm đậu, lạc, lúa, ngô, khoai, sắn... như ta thấy khá phổ biến trong hàng loạt tập thơ ra đời hiện nay.
Những giằng níu, tiếc nuối và bao dung rất “người” với biết bao kỷ niệm quá vãng, những gì nay đã trở thành đồ cũ: “Ôm mài đống đồ quá quen, cũ rích/Ai nỡ vứt đi kỷ niệm đời mình?/ Chỉ biết thở dài, lau vết mốc meo/Dù tích lại, chả có gì thiết dụng/...Trời ơi! Những câu thơ từng say mê thế/chả lẽ cũng là đồ vật cũ mà thôi?!” (Đồ vật cũ) Một tiếng than, một sự thật phũ phàng, một trái tim mong manh đang cất tiếng khóc. Ta lại thấy một Bằng Việt của thời Bếp lửa mê đắm hiện về; để bây giờ, trước đời sống hiện đại cứ ồn ào, nhạt nhẽo cuốn đi, phủ lấp những góc đời nhân tình thế thái: “Ừ thì vẫn đầy sông sâu, bến đợi/Chỉ ít ai còn nhớ tiếng gọi đò/Ừ thì vẫn còn Tấm Cám như xưa/Chỉ ít ai nuôi Tấm trong quả thị/...Ừ thì đời này vẫn còn vị muối/Chỉ ít ai còn gắn với gừng cay...”.
“Ừ thì” là cái giọng “biết rồi”, giọng của người “tri thiên mệnh”, nhưng sau cái tưng tửng ấy vẫn là nỗi người chua chát, cám cảnh của nhân tình. Ông đi từ những trớ trêu lỗi mốt, từ sự “lưu ban thế kỷ” trong Đồ vật cũ, trong Người của thế kỷ trước, đến bi kịch, đắng đót trong Ngôn ngữ và chính trị. Ông đi từ những bi hài, ảo tưởng và huyễn hoặc của Hãy đợi đấy đến hài hước, trào lộng của Phim về Lý Công Uẩn, hoặc với giọng giễu nhưng đầy trắc ẩn của Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông...Chúng ta thấy rõ “chân khí” của Nheo mắt nhìn thế giới, thấy rõ chất suy tư, chiêm nghiệm theo cách Bằng Việt, tiêu biểu trong Ngôn ngữ và chính trị, Rượu của Nguyễn Cao Kỳ. Đó là những vấn đề đang thời sự, là một hiện tượng có diện phổ quát hiện nay: “Ngôn ngữ tội tình gì, hỡi “rusky day dứt”/Mà dâu bể khó lường, mà giậu đổ bìm leo?/Hay cũng nhiễm thói đời, như đồng tiền đen bạc/Lúc thắng thế vung vinh, lúc tủi phận bọt bèo?!” (Ngôn ngữ và chính trị).
Và, trong câu chuyện về chai rượu mà tướng Nguyễn Cao Kỳ tặng, nhân về thăm cố hương, có nhiều người vui uống, cũng có người không uống. Không uống không phải vì chất rượu, nồng độ rượu. Đó là “nồng độ” tâm hồn về quá vãng chiến tranh, về mát mát, đớn đau còn đang lưỡng lự tranh đấu trong ai đó; và đó cũng là lẽ tự nhiên, không bao giờ là giản đơn, dễ dàng trong quá trình khép lại mặc cảm quá khứ bi thương, hoà giải dân tộc; quá trình người Việt đến người Việt: “Đám đông ồn ào của chúng tôi cứ uống/Anh bạn chỉ ngồi im, cũng chẳng nói thêm gì/Và bữa rượu bỗng dưng thành đắng đót/Chẳng phải tại vì ai, kể cả Nguyễn Cao Kỳ!”.
Có nhiều triết luận, lập ý nhưng khác trước ở chỗ, Bằng Việt “gọi” chúng từ những hiện tượng và sự vật cụ thể, gần gũi trong đời sống quanh ta. Đó là một cố gắng có chủ đích nhằm tránh những liên tưởng chung chung, to tát hoặc gán ghép gượng gạo. Tuy nhiên, để không bị lộ, để đạt đến độ nhuần nhuyễn như tự thân câu chữ thảng thốt ra là cả một quá trình lao động công phu, có thể ví như quá trình thiền, quá trình tu đến cõi của đại tu sĩ.
Có người bảo Nheo mắt nhìn thế giới có chất “hậu” hiện đại, vì có lối kể chuyện, như bài Rượu của Nguyễn Cao Kỳ chẳng hạn. Lại có người bảo thơ của Bằng Việt không mới về thi pháp, thậm chí nó vẫn như những gì anh viết từ thập niên 60 của thế kỷ trước. Thì đây, chúng ta hãy nghe anh bộc bạch trong Cùng bạn đọc: “Thơ đối với tôi không chỉ là thơ mà còn là một thái độ sống. Đã là một thái độ sống, thì bút pháp thể hiện cốt sao nói được hết điều mình cần nói, cần tỏ thái độ, hơn là chú tâm vào tu từ rắc rối kỳ khu, chơi trò xiếc với ngữ pháp...”. Ông đã lựa chọn “thái độ tiếp cận ra sao với chức năng của thơ, cách chọn góc nhìn ở tầm nào, và cách xử lý các chất liệu thơ ra sao, để truyền đạt được hết thông điệp của mình đến với người đọc...”.
Rõ ràng, thân thủ bút pháp của Bằng Việt ở đây là xác lập thái độ sống. Thái độ ấy là trách nhiệm của công dân thi sĩ, về những vấn đề thời cuộc, những tác động sâu sắc vào lối sống, vào văn hoá và những tiềm ẩn, giăng níu cõi người. Chúng ta không thể đòi hỏi ở tuổi ông sự “quẫy đạp” để đổi mới theo cái cách như nhiều cây bút các thế hệ sau này.
Với những nỗ lực để làm mới hơn, làm cho có không khí hơn cái “tạng” của chính mình, làm một cuộc tăng tốc để không là “Người của thế kỷ trước” đã là một sự nể trọng; không phải ai cũng làm được. Ngoài những day trở, trải nghiệm, kể cả chất trào lộng của Nheo mắt nhìn thế giới, trong sâu thẳm Bằng Việt, vẫn là cái trữ tình xa vắng, hoang buồn, của trái tim cô đơn và đa cảm: “Vì sao xót xa màu áo em đêm ấy/Phố sơ tán vắng tanh, em về đó một mình!/Em mãi mãi ngủ yên, mà tôi thì sống sót/Ba mươi mùa... lá đỏ rụng buồn tênh!”.
Hà Nội, ngày 8/7/2008
Trần La Phù