(Dân trí) - Trong khi nhiều ý kiến cho rằng sân golf cần bị phê phán do chiếm dụng đất đai, ô nhiễm môi trường thì cũng có những ý kiến đồng tình vì chúng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đâu là bản chất của vấn đề?
Nhiều ý kiến trái ngược nhau về phát triển dự án sân golf.
Những ý kiến trái ngược nhau
Theo con số của Hiệp hội Golf Việt Nam, đến nay đã có tới 144 dự án có mục tiêu kinh doanh sân golf đã được cấp phép hoặc có chủ trương cho phép nghiên cứu thực hiện. Số dự án này thuộc địa bàn của 38 tỉnh, thành phố trên khắp cả nước.
Nếu cả 144 dự án này đi vào triển khai, thì cần phải bố trí ít nhất gần 50 nghìn héc ta đất. Ngay trong số 76 dự án đã và đang triển khai, thì tổng diện tích đất bị lấy đi là 23.832 héc ta, trong đó có khoảng 10.000 héc ta đất nông nghiệp với gần 2.000 héc ta đất trồng lúa nước.
Tại hội thảo “Sân golf và xây dựng xanh” diễn ra 6/5, GS Tôn Gia Huyên, Hội khoa học Đất Việt Nam cho biết: Những việc cấp phép đó là không có quy hoạch mà phụ thuộc vào sáng kiến của các nhà đầu tư, còn các nhà quản lý và quy hoạch thì chạy theo.
Trong số các dự án đã được phê chuẩn thì hơn một nửa là không có trong quy hoạch mà về sau tự điều chỉnh, từ đó khiến người ta rất bị động”.
“Có những dự án rất tốt nhưng nó đã “ăn” quá nhiều vào đất nông nghiệp, ảnh hưởng tới công ăn việc làm, đời sống của nông dân cũng như việc phát triển kinh tế địa phương gây nhiều rối loạn” - ông Huyên nói.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từng đưa ra một minh chứng điển hình: Riêng hai dự án sân golf nằm trên địa bàn 4 xã Yên Mỹ, Duyên Hà, Vạn Phúc, Tả Thanh Oai (huyện Thanh Trì - Hà Nội), tổng diện tích khoảng 800 ha gồm đất nông nghiệp và đất bãi đã có liên quan đến đời sống của khoảng 20.000 dân…
Bên cạnh đó, việc phát triển sân golf còn gây ô nhiễm môi trường, nước, từ đó tác động tới sức khoẻ của con người do những thuốc bảo vệ cỏ. Ngay cả việc tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội cũng được đặt ra đối với một môn thể thao dành cho giới thượng lưu này.
Mặc dù có những ý kiến phản đối như vậy song cũng tại hội thảo này, PGS Lê Kiều lại cho rằng: Thật tội cho cái sân golf.
Theo ông, thật không vô tư khi nói rằng lượng thuốc bảo vệ cỏ nguy hơn thuốc bảo vệ lúa mà bà con nông dân đang dùng hàng ngày với hàng trăm chủng loại, nhãn mác chẳng rõ ràng. Bên cạnh đó, nhiều sân golf cũng sử dụng các loại hoá chất hữu cơ vô hại cho môi trường…
Ông Lê Văn Kiểm, Tổng Giám đốc sân Golf Long Thành thì cho biết: Qua 9 năm hoạt động, sân Golf Long Thành đã giải quyết việc làm cho hơn 2.000 lao động, nộp ngân sách nhà nước hơn 200 tỷ đồng. Ngoài ra còn tham gia nhiều các hoạt động từ thiện, đóng góp số tiền hàng trăm tỷ đồng…
Cần cân nhắc lợi ích nhiều phía
Hiện nay, ở nước ta mới chỉ có khoảng 6.000 người tham gia chơi golf vì đây là môn thể thao tốn kém.
Theo nhiều chuyên gia, tùy theo mỗi câu lạc bộ chơi golf, nhưng để là thành viên của một trong các câu lạc bộ này, người chơi phải bỏ ra khoản tiền ít nhất là 50.000 USD một năm, chưa kể đến hàng loạt phí dịch vụ và đầu tư cho trang thiết bị vô cùng đắt đỏ.
Trong khi số người thụ hưởng, tức là người chơi không nhiều thì các dự án sân golf đã phải dành nhiều diện tích đất cho môn thể thao này. Cụ thể là diện tích bình quân của mỗi dự án sân golf lên tới 203 héc ta.
Với việc nhiều dự án sân golf “ăn” đất nông nghiệp, đất trồng lúa như trong thời gian vừa qua thì điều này đồng nghĩa với việc rất nhiều người dân phải hy sinh tư liệu sản xuất của mình cho một nhóm thiểu số đó.
Sự hi sinh ấy càng trở nên bức xúc khi vấn đề đền bù, giải quyết tái định cư cho người dân không được làm đến nơi đến chốn. Chưa hết, theo tính toán các khoản thu từ bán thẻ hội viên, bán khách lẻ chỉ đủ để trả lương cho nhân viên, cho việc nhập và bảo dưỡng mặt cỏ, nhập phân bón.
Bên cạnh đó, Chính phủ không chủ trương đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với sân golf, đồng thời những thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng đối với những dự án này thường khá dễ dàng.
Chính vì thế các dự án sân golf thường đi liền với những dự án bất động sản, resort, khu nghỉ dưỡng cao cấp. Các chủ đầu tư sân golf đều coi việc thu lợi nhuận từ các dịch vụ ngoài golf là chính. Từ những điều đó, có thể thấy một lỗ hổng trong việc quản lý đất đai cho các dự án sân golf.
Có thể nói, việc xây dựng các sân golf là một nhu cầu tất yếu của phát triển kinh tế và hội nhập. Nhưng đối với một quốc gia xem nông nghiệp làm định hướng phát triển bền vững như Việt Nam, thì cần có một chiến lược lâu dài và bền vững để đưa golf phát triển đúng hướng.
Lan Hương