Thứ Ba, 03/10/2006 - 09:40

7.000 ngày lặn lội “gieo chữ” trên non
(Dân trí) - Sáng lên lớp trong cái rét cắt thịt vùng cao, chiều lặn lội đến nhà dân vận động bà con cho các em đi học... 20 năm qua, thầy Hà Xuân Huynh - quê Thái Bình, hiện dạy học ở xã Nậm Ban, Mèo Vạc, Hà Giang - đã coi những việc làm đó là một phần tất yếu của đời mình.

Lên vùng cao khởi nghiệp

 

Từ thị xã Hà Giang, tôi vượt những con đường đèo dốc quanh co cao lưng chừng trời, qua những cổng trời vời vợi sương mù, những sườn núi đá xám xịt màu u ám để đến huyện vùng sâu Mèo Vạc.

 

Hay tin có PV báo Dân trí về công tác, chị Bùi Thị Hồng Nhuệ - Phó Trưởng phòng Giáo dục huyện Mèo Vạc - thật thà: “Ở đây xã nào, trường nào cũng đều còn rất khó khăn. Nhà báo muốn đến đâu cũng được, chúng tôi sẽ viết giấy giới thiệu”. Nghe câu chuyện của tôi về một thầy giáo dưới xuôi đã lên đây 20 năm, cô giáo Nhuệ cho biết đó là “thầy Hà Xuân Huynh người Thái Bình, hiện ở xã Nậm Ban cách đây hơn ba chục cây số”.

 

Phải mất đến hơn hai tiếng đồng hồ chạy xe, qua những cung đường gồ ghề đá hộc, tôi mới được gặp con người đáng vinh danh này. Thầy Huynh niềm nở kể về những kỷ niệm từ ngày đầu lên vùng cao nguyên đá ở mảnh đất địa đầu Tổ quốc, nơi chúng tôi đang ngồi trò chuyện.

 

Năm 1987 vừa tròn 19 tuổi, phơi phới xuân xanh, chàng thanh niên Hà Xuân Huynh hăng hái lên vùng cao Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang với mong muốn sẽ giúp trẻ nhỏ biết được “cái chữ”. Hà Giang khi đó thiếu giáo viên trầm trọng. Mỗi huyện chỉ có vài chục thầy cô, nhiều xã bị bỏ trắng.

 

“Hồi đó, lúc đi tôi chỉ nghĩ đơn giản là lên đây vài ba năm rèn luyện chí trai rồi về xuôi”, thầy Huynh kể. Mèo Vạc ngày ấy chỉ có duy nhất một ngôi nhà xây 2 tầng, lợp mái ngói, tường gạch, là trụ sở UBND huyện xây từ thời trước. Còn lại tất cả đều là nhà lá lụp xụp tồi tàn. Đêm đầu tiên, chàng trai Xuân Huynh không tài nào chợp mắt. Một phần vì thời tiết ở đây quá lạnh, phần vì cuộc sống hoàn toàn thay đổi, khác hẳn những gì ở quê nhà. Xung quanh đa phần chỉ có bà con dân tộc thiểu số, bất đồng ngôn ngữ...

 

Lớp đào tạo giáo viên cấp tốc (sư phạm 9+1) năm ấy có 25 học viên, đến từ nhiều tỉnh: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Bình... Sau một năm đào tạo, tất cả đều bắt tay ngay vào việc. Các xã, các trường đang trông ngóng giáo viên như nắng hạn đợi mưa. Anh Huynh được phân về phụ trách xóa mù ở xã Khâu Vai, cách trung tâm huyện trọn một ngày đường đi bộ.

 

Tâm huyết của người thầy

 

 

 

Thầy Hà Xuân Huynh 

Khâu Vai heo hút và hoang vắng, không điện, không nước. Quanh năm, mảnh đất khô cằn toàn đá và đá này chỉ trồng được cây ngô. Mỗi lần ra huyện họp, thầy Huynh phải mất 3 ngày trời, cả đi lẫn về. Đó là những hôm nắng ráo, còn gặp buổi mưa gió thì không thể đi đâu được. Ra đường là gặp lũ, học sinh phải nghỉ học.

 

Khổ nhất là đến thôn bản vận động, giải thích để bà con cho con em đến lớp. Có nơi, cả bản không một ai biết nói tiếng Kinh. “Người giáo viên phụ trách xã phải nắm được điều kiện hoàn cảnh từng nhà, vất vả lắm nhà báo ạ”, thầy Huynh nói, “Có những bản chỉ có 4 học sinh. Làm sao để các em đều được đến trường, đó là bài toán mà mỗi giáo viên cắm bản đều phải tìm ra câu trả lời”.

 

Giáo viên phải cùng bà con xây trường, dựng lớp, đóng bàn làm ghế, dồn học sinh các bản cùng độ tuổi về một lớp. “Tôi  nhớ năm 1991, có lần đi bộ hơn một ngày đường đến mấy bản, xẩm tối thì vào bản Phiêng Bung. Cả ngày chưa ăn gì, đã đói lắm rồi nhưng ban ngày đồng bào đi nương rẫy hết, phải tổ chức họp đêm thì mới tập trung được đông đủ bà con. Đến nơi thì đã đói mờ mắt, những tưởng sẽ có bát ngô lót bụng, nào ngờ năm đó mất mùa, người nhà ông trưởng bản đi làm về là đi ngủ ngay. Tôi được xếp vào ngủ một góc nhà. Vừa lạnh, vừa đói, cả đêm gần như thức trắng”, thầy Huynh cười kể.

 

Mèo Vạc đa phần là người Mông, bà con ngày trước không có thói quen uống nước sôi, đến nhà chơi chỉ có rượu ngô uống thay nước. “Mãi rồi cũng quen, chất vùng cao ngấm dần vào người lúc nào không hay”. Bây giờ, thầy Huynh có thể nói được tới bốn thứ tiếng dân tộc: Mông, Dáy, Tày, Dao. Mùa rét, giáo viên phải linh động giờ giấc. Rét quá thì cho học sinh nghỉ. Rét vừa thì cho các em đi học muộn. “Nhiều hôm trước khi vào lớp, giáo viên phải đốt lửa cho học sinh sưởi, không thì các em cóng tay quá cũng không viết được”.

 

Thầy Huynh kể: “Có những cô giáo trẻ vừa lên hôm trước thì hôm sau đã bỏ lại tất cả để ra đi, bỏ cả nghề luôn. Những lúc ấy tôi thấy rất thương họ. Cuộc sống khắc nghiệt là thế, không phải ai cũng chịu đựng được”.

 

Năm 1992, thầy tranh thủ về quê lấy vợ, cũng người TP Thái Bình. Hai vợ chồng hơn kém nhau đến 7 tuổi. Vợ chồng nghìn trùng xa cách, bao nhiêu nhớ mong. Nhưng mỗi năm thầy chỉ về nhà được 1-2 lần. Năm 1995, bố mất, nhưng đường sá xa cách thầy không về kịp để chịu tang bố.

 

“Chỉ có duy nhất một lần tôi ở nhà được trọn vẹn 2 tháng hè, còn tính ra mỗi năm, vợ chồng, gia đình sum họp được hơn 1 tháng là cùng. Tôi biết vợ tôi rất muốn tôi về, mặc dù cô ấy không nói ra”, thầy nói. Về tức là bỏ nghề, nhiều người khác đã làm như thế. Nhưng thầy thì không. Những lớp học sinh cứ nối tiếp nhau trưởng thành chính là nguồn động viên lớn cho thầy ở lại.

 

“Mới đó đã 20 năm...”

 

Thầy Huynh dạy ở Khâu Vai được 10 năm, chuyển sang Sủng Chà được hơn 1 năm, rồi về Nậm Ban từ đó cho tới nay. Thầy khoe: “Nậm Ban là xã phổ cập THCS đầu tiên của huyện, năm 2003”. Thời gian cứ ngấm ngầm miệt mài trôi, ngoảnh lại đã được ngót nghét 20 xuân vùng rẻo cao, 20 mùa đào rừng nở đỏ khắp các thung lũng.

 

Bấy nhiêu năm cho một đời người, dài đấy, nhưng cũng ngắn lắm! 20 năm chỉ thoảng qua như một cái chớp mắt, nhưng cũng là cả chặng đường dài. Chàng thanh niên Xuân Huynh trai trẻ ngày nào, giờ đã tứ tuần, tóc đốm bạc, những thăng trầm của đời người cũng đã nếm trải.

 

Chia tay tôi, thầy nói: “Có lẽ mình sẽ ở đây đến khi nào về hưu, rồi cũng về quê thôi”. Vậy là thầy còn phục vụ ngành Giáo dục huyện Mèo Vạc 20 năm nữa. Tôi chợt bâng khuâng, cuộc đời mỗi người có được mấy cái 20 đầy ý nghĩa ấy? Có mấy ai hy sinh cả tuổi thanh xuân để lên vùng cao xa lắc, xa lơ dạy học cho con trẻ như thầy Huynh?

 

Án Văn Long