Thứ Ba, 31/03/2009 - 00:39

Vì sao giá cả “hãm phanh” thời gian qua?
Các chuyên gia của Tổ điều hành Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho rằng, giá hàng hoá và dịch vụ trong nước hãm được tốc độ phi mã do hai yếu tố cơ bản: Giá hàng hoá thế giới giảm, kéo theo giá trong nước giảm và thị trường tiền tệ được kiểm soát.
Ba tháng đầu năm 2009, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chỉ tăng 1,32% so với tháng 12/2008 - là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ những năm trước. Nếu so với con số 9,19% của quý I năm ngoái thì con số năm nay quả là một sự đảo chiều ngoạn mục; quý I/2007 tăng 3,02% và quý I/2006 tăng 2,8%).

 
Hạ nhiệt theo giá thế giới

Trên thị trường thế giới, khác với quý I/2008, khi tình trạng đầu cơ và yếu tố tâm lý là nhân tố chính tác động tới xu hướng tăng giá nhiều loại vật tư - hàng hóa, những tháng đầu năm 2009, nhiều mặt hàng đã có xu hướng giảm.

Giá dầu thô ngọt nhẹ giao kỳ hạn ở mức 53,98 USD/thùng (ngày 24/3/2009, thị trường New York); giá phôi thép ở mức 360 - 375 USD/tấn CFR (ngày 23/3 tại thị trường Đông Nam Á); giá đường ở mức 406 USD/tấn (ngày 23/3 tại thị trường London); gạo 5% tấm của Việt Nam ở mức 450 - 470 USD/tấn FOB; giá phân urê ở mức 255 - 260 USD/tấn FOB (19/3 tại thị trường Yuzhryy).

Như vậy, so với cùng kỳ năm 2008, giá nhiều loại nguyên nhiên vật liệu hiện đã giảm mạnh như dầu thô ngọt nhẹ giảm 57%, xăng RON92 giảm 54%, dầu hỏa là -61%, diezen 0,25S là - 62%, madút là -53%; phân bón: - 30 đến 35%, phôi thép:- 59%, gạo tấm 5% của Việt Nam: -23 đến 26%.

Đó là nguyên nhân chủ yếu tác động đến thị trường trong nước khiến giá cả một số mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, xi măng, sắt thép tiếp tục giảm nhẹ và ổn định.

Theo Tổng cục Thống kê, quý I năm nay, đa số các nhóm hàng đều có chỉ số giá tăng thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống chỉ tăng 1,6%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 14,45% của cùng kỳ năm 2008, trong đó ăn uống ngoài gia đình tăng 3,43%, lương thực tăng 2,06%, thực phẩm tăng 0,69% (cùng kỳ năm ngoái các nhóm này đều tăng trên 13%).

Các nhóm hàng khác cũng tăng ở mức thấp như may mặc và giày dép tăng 2,1%, nhà ở vật liệu xây dựng tăng 2,68%. Riêng nhóm phương tiện đi lại và bưu điện giảm hơn 4% nhờ giá xăng dầu ở mức thấp và các doanh nghiệp tăng cạnh tranh.

Linh hoạt có kiểm soát thị trường tiền tệ

Thị trường tài chính tiền tệ quý I biến động theo xu hướng giảm chi phí vốn, tăng khả năng tiếp cận vốn vay cho các doanh nghiệp, điều chỉnh tỷ giá linh hoạt theo thị trường nhằm khuyến khích xuất khẩu. Để hỗ trợ tăng trưởng và ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, Chính phủ đã có chính sách theo hướng nới lỏng tiền tệ, hỗ trợ cho vay tín dụng.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã liên tục hạ lãi suất cơ bản, hiện xuống còn 7%/năm với VND, hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc (hiện ở mức 1 - 3% đối với VND), hướng dẫn chi tiết việc cho vay ưu đãi nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh.

Tại các ngân hàng thương mại, lãi suất cho vay cũng liên tục được điều chỉnh giảm. Trong quý I, lãi suất huy động đã tăng nhẹ và ở mức khoảng 7 - 8,7%/năm. Tỷ giá USD/VND các tháng đầu năm nhìn chung cũng ổn định.

Sau khi Ngân hàng Nhà nước nới biên độ tỷ giá từ 3% lên 5% từ ngày 24/3 trên thị trường tự do, tỷ giá đã có một số biến động nhưng mức tăng không mạnh và đã ổn định trở lại. Việc triển khai cho vay ưu đãi phục vụ sản xuất kinh doanh đang được các ngân hàng triển khai tích cực, đến ngày 14/3 đã giải ngân được hơn 144.300 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Danh Trọng, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước, phân tích nới lỏng tài chính, tiền tệ cũng có nghĩa là phải chấp nhận lạm phát có thể quay trở lại.

Chính vì thế, để hạn chế các tác động tiêu cực tới chỉ số hóa, chính sách về tài chính - tiền tệ trong thời gian qua đã phải điều hành rất linh hoạt và hết sức thận trọng.

Giảm sút cả tiêu dùng nội địa và xuất khẩu

Thị trường hàng hóa thường sôi động nhất vào quý I. Tuy nhiên năm nay, do điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập của người dân giảm nên so với Tết năm 2008, sức mua không tăng.

Sau Tết, các hoạt động sản xuất kinh doanh đã trở lại bình thường, cùng với tác động của các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng nên sức tiêu thụ các loại hàng hóa vật tư nguyên liệu sản xuất và hàng thiết yếu đã có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn ở mức thấp so với cùng kỳ năm trước.

Ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội tháng 3 đạt hơn 88.460 tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng 2, đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội quý I đạt hơn 270.000 tỷ đồng, thấp hơn so với quý I/2008. Các chuyên gia cũng đặc biệt lo ngại xu hướng cầu ngoại, tức là xuất khẩu giảm sút.

Theo số liệu thống kê, ước kim ngạch xuất khẩu tháng 3 đạt 4,7 tỷ USD, đưa kim ngạch xuất khẩu quý I lên gần 13,480 tỷ USD, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng thực tế đã giảm từ 10 - 30%. Cả cầu nội và cầu ngoại giảm sút đã đẩy thị trường vào tình thế cung lớn hơn cầu. Kết quả là nhiều doanh nghiệp, ngành hàng có mức tồn kho cuối năm trước chuyển sang năm nay và sản xuất trong năm nay lớn.

Thậm chí, tỷ lệ chênh giữa chênh lệch tồn kho cuối năm so với đầu năm trên GDP cao gần gấp đôi cùng kỳ năm trước, có nghĩa là tồn kho năm trước chuyển sang năm nay đã cao hơn nhiều cùng kỳ cũng đã tạo áp lực rất lớn tới việc giảm giá của thị trường hàng hóa.

Ông Nguyễn Đức Thắng, Phó Vụ trưởng Vụ Thương mại - dịch vụ - giá cả của Tổng cục Thống kê cho biết CPI quý I/2009 tăng trung bình hàng tháng ở mức 0,44% - mức thấp nhất trong nhiều năm là tín hiệu tốt vì vừa qua để hỗ trợ tăng trưởng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, Chính phủ đã có chính sách theo hướng nới lỏng tiền tệ, hỗ trợ cho vay tín dụng. Theo đó Ngân hàng Nhà nước đã liên tục hạ lãi suất cơ bản (hiện còn 7%/năm).

Tuy nhiên, việc nới lỏng chính sách tiền tệ có thể sẽ dẫn tới sự quay trở lại của lạm phát. Tăng trưởng kinh tế quý I đạt mức 3,1% trong khi lạm phát ở mức thấp đó là minh chứng thành công trong chính sách điều hành kinh tế của Chính phủ.

Theo ông Nguyễn Danh Trọng, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước để kích thích thị trường, vấn đề vốn không phải là hàng đầu mà giải pháp cần được ưu tiên là đẩy nhanh gói kích cầu để khơi thông đầu ra của hàng hóa. Hiện nay, nhiều nước đã có chính sách mở rộng thị trường trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu để giải phóng hàng tồn kho.

Việt Nam đã có đề án mở rộng thị trường trong nước nhưng thực hiện chậm. Do đó, Chính phủ phải có giải pháp mở rộng thị trường trong nước để khai thác tiềm năng. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhiều nước cũng đẩy mạnh kích cầu thì Nhà nước cũng cần đưa ra các hàng rào kỹ thuật để ngăn chặn hàng hoá giá rẻ ồ ạt nhập khẩu vào Việt Nam.

 
Theo Tin tức/Vietnam+