(Dân trí) - 231 ha rừng trong đó có gần 100 ha rừng phòng hộ thuộc sự quản lý của Ban quản lý trồng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Hương đã bị người dân tàn phá. Sự việc động trời xảy ra đã 5 năm nhưng chủ rừng vẫn chưa tìm được biện pháp ngăn chặn.
“Thảm sát” rừng phòng hộ để làm kinh tế
Từ năm 2004, hơn 100 hộ gia đình 2 xã Bình Điền, Hồng Tiến (huyện Hương Trà) đã ồ ạt tổ chức chặt phá, lấn chiếm 231,6 ha rừng thuộc sự quản lý của Ban quản lý trồng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Hương (BQLTRPHĐN - dưới đây gọi là Chủ rừng).
Nguy hại nhất, trong diện tích rừng bị lấn chiếm, phát và đốt có tới 94,91 ha rừng phòng hộ được trồng theo các chương trình dự án 327, 661, JBIC. Chỉ tính riêng ở 2 tiểu khu 131 và 142 đã có tới gần 80 ha rừng trồng dự án 327 bị người dân phá tiệt để làm trang trại.
Sau khi phát thực bì, các hộ gia đình đã tiến hành đốt rẫy, khiến nhiều lần gây cháy sang các khoanh rừng lân cận. Thực trạng này bắt đầu năm 2004 nhưng đến giai đoạn 2006 - 2007 mới thực sự “nở rộ”, vượt khỏi tầm kiểm soát của Chủ rừng và các cơ quan liên quan.
Riêng trong 2 tháng từ 5 - 7/2008, người dân đã rủ nhau vào lấn chiếm và “lột da” 14,8 ha rừng trong sự phản ứng yếu ớt và chậm chạp của Chủ rừng cũng như các cơ quan chức năng. “Làn sóng” này lan tràn mạnh đến mức, Chủ rừng phải phát đơn kêu cứu vì lực bất tòng tâm trong việc ngăn chặn.
Trung bình, mỗi hộ đều “bỏ công” lấn chiếm trên dưới 2 ha, cá biệt có hộ ông Nguyễn Văn Hòa còn bỏ tiền thuê nhân công thẳng tay phát quang tới hơn 13 ha (có không ít loài quý hiếm như chò, dẻ) để trồng keo tai tượng. Do Chủ rừng phát hiện chậm, xử lý thiếu kiên quyết nên đến nay, hầu hết các hộ gia đình đều làm xong trang trại, có hộ đã trồng cây cao đến đầu người.
Sau khi nhận được đơn “kêu cứu” của Chủ rừng kèm bản danh sách 104 hộ lấn chiếm và những con số thống kê đầy đủ, Công an huyện Hương Trà đã tổ chức lấy lời khai của các hộ lấn chiếm.
Chị Nguyễn Thị Phương đi khai thay chồng đã trình bày bằng những dòng chữ nguệch ngoạc: “Vợ chồng tôi mới lấy nhau, không có đất sản xuất. Đi làm mây trong rừng, thấy có đất nên phát quang để trồng keo chứ không biết đó là rừng của BQL”. Còn ông Nguyễn Tứ Quân thì giải thích: “Chúng tôi thấy rừng không ai quản lý, tưởng là rừng hoang nên đi phát để trồng keo”.
Trong một cuộc họp mới đây, ông Nguyễn Hữu Cự, Trưởng BQLTRPHĐN sông Hương thừa nhận: Việc phát hiện các đối tượng vi phạm còn chậm, lực lượng bảo vệ rừng của BQL cũng mỏng, yếu và không được trang bị công cụ nên mới nảy sinh cơ sự.
Thực tế, tới tháng 7 vừa qua, BQL có lập biên bản, dỡ lán trại của một số hộ nhưng mọi chuyện đã quá muộn vì rừng phòng hộ đã bị phát và những trang trại quy mô đã định hình và sinh sôi ngay trong lòng 11.267,3 ha rừng được UBND tỉnh giao cho BQLTRPHĐN sông Hương quản lý.
“Mở cửa nhà cho ăn trộm rồi la làng”
Có một sự thật là đại bộ phận người dân lấn chiếm, phá rừng ở đây có học vấn thấp, nhận thức pháp luật hạn chế. Tại một buổi lấy lời khai, một người dân đã khiến cán bộ kiểm lâm bật cười vì không biết diện tích rừng mà mình vừa phá ở tiểu khu nào, của ai mà chỉ “ngây thơ” trả lời: “Em phát ở khu đồi hai vú”. Hỏi lại mới biết “đồi hai vú” là khu vực hai đỉnh đồi kề nhau nên anh ta tự đặt tên như vậy.
Ngoài một số “đại gia” có tiền, cho thuê người phát rừng trên quy mô lớn thì phần đông người dân ở khu vực 3 xã này đều thiếu tư liệu sản xuất, hơn nữa thấy người làng làm được trang trại nên cũng hăng hái vác rìu rựa vào rừng để làm theo.
"Hiện toàn xã có 800 hộ dân nhưng chỉ có 600 ha đất sản xuất, trong khi đó diện tích quản lý của BQLTRPHĐN sông Hương chiếm hơn 1/2 diện tích đất tự nhiên của xã. Trong gần 1/2 còn lại, có tới 10 đơn vị khác quản lý nên người dân không có đất sản xuất” - ông Nguyễn Đại Hóa, Chủ tịch UBND xã Bình Điền cho hay.
Còn ông Nguyễn Xuân Ty, Phó Chủ tịch UBND huyện Hương Trà thì khẳng định: “BQLTRPHĐN sông Hương đã quản lý quá lỏng lẻo, phát hiện tình trạng lấn chiếm, phá rừng từ năm 2004, 2005 nhưng xử lý không dứt khoát. Đến khi dân ồ ạt vào phá rừng, lập trang trại không kiểm soát nổi thì mới phát đơn kêu cứu”.
Ông Ty ví von: “Nhà của anh, anh mở cửa toang hoác cho ăn trộm vào rồi mới đi la làng thì đã muộn”.
Thừa nhận sự lỏng lẻo của mình, ông Nguyễn Văn Vường, Phó BQLTRPHĐN sông Hương than thở: “Chúng tôi được giao trách nhiệm trồng và quản lý rừng nhưng đâu có quyền xử phạt. Khi phát hiện vi phạm, chúng tôi đã lập biên bản và suốt mấy năm nay đã gửi báo cáo, tờ trình lên khắp nơi từ UBND các xã, UBND huyện, Hạt kiểm lâm huyện… đề nghị phối hợp xử lý nhưng không hiểu vì sao không thấy hồi âm”.
Ông Vường cũng đưa ra hàng chục báo cáo, tờ trình các loại từ năm 2005 đến nay để chứng minh lời mình nói.
Ngược lại, huyện cho rằng trách nhiệm bảo vệ trước hết thuộc về chủ rừng, còn huyện và các xã “bận trăm công nghìn việc” nên không thể quán xuyến nổi.
Về quan điểm xử lý, ông Ty cho biết: “Hiện hồ sơ sự việc đã hoàn tất nhưng còn vướng mắc do trang trại của người dân đã lớn, cũng là tiền của cả nên giờ phá đi trả lại nguyên trạng thì cũng thiệt thòi cho họ.
Do đó, chúng tôi đang nghiên cứu khả năng cho người dân tới 2010 để thu hoạch trang trại và trả đất đối với diện tích lấn chiếm rừng sản xuất. Còn với rừng phòng hộ, nhất quyết phải thu hồi ngay, không loại trừ khả năng truy tố một số đối tượng biết mà vẫn lấn chiếm với quy mô lớn, tái phạm nhiều lần”.
Như vậy, trong khi những người lấn chiếm đang lo sốt vó về việc phải hầu tòa, mất của thì bài toán trách nhiệm xem ra vẫn còn nan giải. Chỉ có gần 100 ha rừng phòng hộ chống lũ đầu nguồn bị chiếm, phát trụi là đã quá rõ ràng.
Hồng Kỹ