Thứ Bẩy, 02/08/2008 - 09:23

Chống nạng đi “giữ lửa” lịch sử
(Dân trí) - 82 tuổi, là thương binh hạng ¼ với một chân bị đứt lìa tận khớp háng, chân kia gãy lên gãy xuống không biết bao nhiêu lần. Nhưng gần 15 năm qua, ông vẫn cần mẫn trên đôi nạng gỗ đi đến các trường học trong huyện giảng về lịch sử quê hương đất nước.

“Truyền lửa”...

 

Vào chiến trường từ sau Cách mạng tháng Tám, chàng thanh niên Nguyễn Xuy (ở Phổ Lại, Quảng Vinh, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế) cùng đồng đội lăn lộn qua hầu hết các chiến trường từ Bắc vào Nam. Năm 1968, Nguyễn Xuy bị địch bắt, bắt đầu chặng đường gian khổ lang thang qua các nhà tù.

 

Ban đầu là trại giam quân đoàn II (Bình Định), rồi địch chuyển ông qua trại ở Pleiku. Được một thời gian, ông lại bị chuyển đến trại Biên Hòa và giam ở đó 3 năm. Cho đến khi về trại giam Phú Quốc, hành trình đi ở tù của ông mới có dấu chấm hết. Sở dĩ ông bị đưa đi hết trại này qua trại khác là vì đến trại giam nào ông cũng là người “truyền lửa” cho anh em bạn tù. “Ở trong tù, phải đối mặt với đòn roi tra tấn nên đã khiến anh em xiêu lòng mà đầu hàng. Không thể vì một chút yếu lòng nào mà làm hỏng cả sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng toàn dân được”, ông nói. 

 

Đến nhà tù nào, cứ đợi bọn cai tù tắt đèn đi ngủ là ông lại đánh thức anh em dậy để nói chuyện về đường lối chính sách của Đảng, về chủ nghĩa Mác-Lê Nin, nói chuyện về bác Hồ. Ba lần bị địch bắt quả tang, ba lần chúng dùng cưa gỗ cưa đi một đoạn chân của ông. Đau đớn đến tận cùng nhưng ông vẫn cắn răng chịu đựng. Vết cưa này chưa kịp lành, ông lại ngồi dậy tiếp tục công việc “truyền lửa” để ngọn lửa cách mạng dù ở chốn ngục tù không thể tắt ngúm. “Cái chân này tổng cộng bị cưa ba lần, lần cuối cùng lên tận khớp háng nên chúng không còn gì để cưa nữa đó”, ông lắ lắc cái ống quần trống không, dí dỏm nói.

 

... và “giữ lửa”

 

Về quê hương sau ngày đất nước hòa bình với hàng chục vết thương trên thân thể, tưởng đâu đã có thể hưởng thụ những ngày an nhàn, bù đắp lại những hy sinh mất mát. Nhưng lòng ông lại thấy không đành. “Ngày còn thanh niên trai tráng, nhìn cảnh nước mất nhà tan đã cay đắng. Đến khi về già lại càng cay đắng hơn”. Đó là một lần nghe trên đài huyện đưa tin về kết quả thi tốt nghiệp của một trường cấp ba gần nhà. Hơn một nửa không qua điểm 5 môn Sử. Chưa tin, ông đem vài chuyện lịch sử hỏi mấy đứa cháu, hầu hết đều trả lời lệch lạc… Ông cảm thấy mình mất mát một điều gì đó.

 

Ngay ngày hôm sau, ông chống nạng ra trường tiểu học Quảng Vinh tìm gặp thầy hiệu trưởng để bàn bạc. Một tuần tiếp theo, đêm nào ông cũng thức tới khuya để soạn xong cuốn giáo án về lịch sử địa phương. Từ đó, ông trở thành ông giáo làng bất đắc dĩ, ngày ngày đi đến các trường tiểu học, trung học ở huyện Quảng Điền giảng về lịch sử cho các em nghe. “Tôi có thể già đi, yếu đi. Nhưng không thể để cho lớp trẻ quên đi cội nguồn gốc tích của mình được”, ông tâm sự.

 

Sau những bài giảng về lịch sử quê hương, ông tranh thủ tìm thêm tài liệu về lịch sử đất nước, lịch sử bác Hồ để kể cho các em nghe. “Nhưng mà phải dạy sao cho học sinh nhớ mới được, chứ như nước đổ lá môn thì cũng chẳng có ích gì”. Thế là ông mạnh dạn đề đạt lên Hội Khuyến học huyện xin kinh phí để sau những buổi học lịch sử khô cứng, ông tổ chức luôn những cuộc thi về kiến thức lịch sử và có phần thưởng đàng hoàng.

 

“Nhờ có “khoản thưởng” mà ai cũng chăm chú nghe để thi lấy giải hết, không còn trốn học như trước đây nữa”, ông phấn khởi ra mặt. Không những thế, nhiều khi ông còn đưa luôn học sinh ra lại nơi những chiến trường năm xưa ông cùng đồng đội chiến đấu để giảng cho “có thực tế”. Lần đưa học sinh ra chân cầu Phổ Lại, nơi ngày trước quân dân trong xã chiến đấu bảo vệ làng, chiếc nạng gỗ của ông vướng vào một cành cây khiến ông không đứng vững, mình bê bết bùn đất. Ông giảng luôn: “ Bộ đội mình ngày xưa cũng phải lăn lộn giữa đất bùn thế này mới tránh được làn đạn của kẻ thù và bảo vệ được quê hương đó…”.

 

“Hội truyền lửa”

 

15 năm đi giảng Sử, hàng ngàn học sinh đã được nghe qua bài giảng của ông. Nhưng ông cũng đã già. Đôi chân cũng đã mỏi. Ông biết mình không còn đủ sức để đi giảng tiếp. Nhưng lòng thì vẫn cứ canh cánh không yên. “Mình có thể không đi nổi, nhưng thế hệ trẻ thì không một ngày được phép quên nguồn cội. Phải có người kế tục cái nghiệp này…”. Trăn trở mãi cuối cùng ông cũng tìm ra được một giải pháp. Ông tập hợp những người đồng đội cũ trong hội cựu chiến binh xã Quảng Vinh lại và lập ra hội “truyền lửa”. Hội này sẽ tiếp tục công việc “giữ lửa” của ông.

 

Nhưng đó toàn là những con người chân lấm tay bùn, không có nghiệp vụ sư phạm. Ông đào tạo luôn… nghiệp vụ sư phạm cho họ. Một lớp đào tạo ngắn hạn ra đời. 45 thành viên của hội được ông chỉ dạy về các kiến thức lịch sử, về cách kể chuyện lịch sử, cách truyền đạt kiến thức dễ nhớ. Và ông giao nhiệm vụ những người này sẽ thay ông đến các trường học giảng sử.

 

“Đến nay đã có 3 người có thể đứng lớp thay tôi. Cũng khá yên tâm rồi… Khi nào tất cả những hội viên của hội này đều đi dạy được thì không còn phải lo chuyện lớp trẻ trong huyện Quảng Điền này quên nguồn cội nữa… Khi đó tôi nhắm mắt cũng yên!”.  

 

Ngoài “hội truyền lửa”, ông còn lập ra quỹ “húy nhật liệt sĩ”. Đến ngày giỗ của liệt sĩ nào trong xã Quảng Vinh, ông đều trích quỹ ra 15 ngàn đồng để đến thắp thêm nén hương cho liệt sĩ đó. Trong cuốn sổ ghi tên và ngày hy sinh của các liệt sĩ, ông đều có thêm phần trường hơp hy sinh, để khi đến ngày giỗ của họ, ông kể lại cho gia đình, thân nhân họ nghe, như là một sự ghi nhớ công lao của những người đã quên mình vì đất nước.

 

Lê Ngọc Bảo