Thứ Tư, 13/06/2007 - 10:35

Người đàn bà mười năm... “sờ gáy thần chết”
(Dân trí) - Người ta gọi chị là “vua liều” bởi bao năm nay, chị là người phụ nữ hiếm hoi ở đất Tân Minh (Gio Thành, Gio Linh, Quảng Trị) gắn đời mình với việc rà phế liệu, dù chính những thứ “phế liệu” nguy hiểm ấy đã cướp đi người chồng của chị.

Kỳ I: Mưu sinh bằng nghề “sờ gáy thần chết”

 

Chị là Nguyễn Thị Tam, 44 tuổi, góa chồng mười năm nay, một nách nuôi 4 con ăn học. Chị gầy quắt queo, đen nhẻm, rắn rỏi và liều lĩnh. Càng nghe chị kể chuyện về cuộc đời và hoàn cảnh gia đình chị chúng tôi càng thấy cái sự liều lĩnh trong con người này cứ hiện dần lên, liều lĩnh đến bất chấp. 

  

Câu chuyện mười năm về trước

 

Có lẽ cả cuộc đời này chị sẽ không bao giờ quên cái cảnh tượng của 10 năm trước: “Hôm ấy tui vừa mới sinh thằng cu Tây (con thứ 4) được tròn 10 ngày, hãy còn đang nằm ôm con trên giường, lúc đó khoảng 3 giờ chiều, một tiếng nổ rất lớn phát ra ngay cạnh nhà, chạy ra đến nơi thì trời đất như sụp xuống. Chính chỗ đó chồng tôi vừa ngồi tháo đạn với thằng cu cháu, vậy mà chỉ sau một tiếng nổ, để lại một hố sâu hoắm, xác anh Hảo chồng tôi không còn nguyên vẹn... tôi không đủ tỉnh táo để thấy chi, trong đầu lúc ấy chỉ là những tiếng cưa đục của chồng cứ văng vẳng bên tai”.

 

Nói đến đây giọng chị như nghẹn lại, rồi những giọt mồ hôi pha lẫn những giọt nước mắt cứ lăn dài trên khuôn mặt khắc khổ gầy gò đen xạm ấy. Phải mất đến vài phút chị mới có thể tiếp tục câu chuyện, tất cả cứ lần hồi theo trí nhớ được kể lại cho chúng tôi nghe như thể một bài học thuộc lòng.

 

“Số tôi khổ từ tấm bé, năm 23 tuổi mới xây dựng gia đình trong khi thời ấy các bạn cùng trang lứa chỉ 15, 16 tuổi đã nên gia thất hết thảy, cũng chỉ tại cái nghèo nó đeo đẳng mà ra nông nỗi. Rồi bốn đứa con lần lượt ra đời, lần hồi mãi cũng chẳng đủ ăn. Cái vùng đất quê hương chị đã nghèo xác xơ, làm ruộng thì chỉ được vụ đông xuân, các vụ khác phần thì thiếu nước, phần thì lúa vừa trổ đòng đã bị gió Lào thiêu đến quặt cả đầu bông, đầu lá. Trong khi chính cái vùng đất này lại là nơi “trú ngụ” của không biết bao nhiêu bom đạn từ thời chiến tranh để lại.” – chị kể

 

Ngồi trong căn nhà trống tuềnh trống toàng của năm mẹ con mà chị khoe rằng nhờ ơn trời nên cách đây 2 năm, một tổ chức phi chính phủ tài trợ cho gần 4 triệu đồng để xây dựng, dở dang thì hết tiền nên cũng mới chỉ xây thô. Trong nhà ngoài cái giường và một chiếc tủ quần áo bằng tôn ra không có gì đáng giá. Hai cậu con trai chị phải kê phản ngủ ngoài sân phần vì nhà chật, phần vì nóng quá chúng không chịu nổi. Tiếp khách ngay dưới đất, đến cái quạt cũng không có để dùng, nhìn ra giữa cái nắng tháng 5, chỉ có mấy ngọn phi lao còn giữ được màu xanh, cứ vi vút đung đưa như khẳng định sự sống.

 

Mới 34 tuổi đã góa chồng, không nghề nghiệp, chẳng biết bấu víu vào đâu, gia tài lớn nhất mà người chồng để lại cho cuộc đời chị là bốn đứa con nheo nhóc và một ngôi nhà tranh vách đất chẳng khác gì túp lều vịt.

 

“Từ khi chúng được sinh ra chưa khi nào thoát cảnh cơ cực. Nhiều lúc cứ nghĩ cho phắt chúng cho ai nuôi thì nuôi, để chúng được sung sướng” – chị Tam rầu rĩ nói.

 

Đành rằng là thế nhưng có người mẹ nào lại bỏ được con, chúng tôi đọc được suy nghĩ ấy qua ánh mắt của chị khi đang cố nuốt những giọt nước mắt vào trong.

 

Cái cuộc sống vạ vật sau ngày chồng qua đời cũng là chuỗi ngày cơ cực nhất đời người phụ nữ góa này. Mang tiếng là nhà nông nhưng mẹ con chị cũng chẳng biết đến hạt gạo cho ra hạt gạo, thóc thu hoạch đem bán hết mua gạo lứt ngả màu về ăn cho rẻ. Những đứa con chị lớn lên đứa nào cũng dong dỏng nhưng gày gò cằn cỗi như những đám cây dại đang nép mình bên những gốc phi lao.

 

Họ hàng ruột thịt, bạn bè quen biết, không ai chị không vay mượn, cũng đuợc lưng vốn để đi buôn bán lặt vặt, nhưng khổ nỗi không biết tính toán, càng đi buôn càng lỗ vốn, nợ ngày càng nhiều. Cuộc sống hàng ngày diễn ra như những cơn sóng dữ dồn năm mẹ con đến tận đáy của cơ cực. “Đói thì đầu gối phải bò” -chị Tam nói.

 

“Chết đói hay chết bom mìn có khác gì nhau” ?

 

Quyết định tiếp tục cái công việc của chồng để sống - đi rà sắt vụn. Với chị “đó là số phận, chứ có ai muốn. Cực chẳng đã miềng mới phải đi làm cái nghề này chứ thiêu (chết mất xác) lúc mô nỏ biết”.

 

Hồi đó, mảnh bom, xác pháo còn nhiều lắm, chỉ cần cầm cái cuốc khơi khơi, lớ rớ là thấy ngay. Tuy nhiên nguy hiểm thì đã được biết trước, một nhát cuốc dù nhẹ hay mạnh cũng là một cái án tử hình cho những người làm cái công việc này, nếu trúng kíp nổ thì chỉ có nước mất xác.

 

Con thì quá nhỏ, mới được 3 tháng tuổi, đem gửi hết người trong làng ngoài xã, cứ gửi được là gửi, thậm chí lừa cả ông chăn vịt đầu làng. Có lần gửi lâu quá làm ông chăn vịt chạy đôn đáo quanh làng tìm vì sợ chị… bỏ con mà đi trốn.

 

“Người chết cũng đã chết rồi, người sống cần phải sống. Mà sống chết cũng có số, chết đói hay chết bom mìn có khác gì nhau?”, chị Tam bỗng trầm giọng, cái giọng của những người không còn đường lùi.

 

Ngày đầu tiên nối nghiệp người chồng xấu số, chị bán sắt cũng được 30 ngàn đồng. Lâu lắm rồi chị mới được cầm nhiều đến như vậy, nó đánh vào tiềm thức con người đói khổ ấy sự mừng tủi và cả sự hoang mang. “Nửa đời trồng lúa, lại là trồng lúa trên đất gió Lào, chưa khi nào miềng được cầm đồng “tiền tươi”- chị cười gượng gạo.

 

Vì nghèo đói, túng quẫn, vì bốn đứa con đang tuổi ăn tuổi học, vì cuộc mưu sinh bươn bả, chị chấp nhận theo cái nghề đã “giết” chết chồng chị. Chị không sợ chết bởi với chị, cái chết có khi là một lối thoát...

 

Phan Tùng - Hồng Kỹ


Kỳ 2: Một ngày đi “sờ gáy thần chết”