Từ 31 năm nay, ông Nguyễn Quang Dự - nguyên chiến sĩ pháo thủ thuộc B3 hoả lực Triệu Phong, C34B pháo binh Tỉnh đội Quảng Trị - luôn bị giày vò bởi vết thương ngày 1/2/1975 tại trận địa đồi 101 miền tây Hải Lăng - Quảng Trị, bị chứng bệnh vô sinh do nhiễm chất độc hoá học, nhưng vẫn không được coi là một thương binh.
Đồng đội chứng nhận...
Ông Nguyễn Quang Dự sinh năm 1953, hiện ở tại thôn Lưỡng Kim, xã Triệu Phước, Triệu Phong (Quảng Trị). Hồ sơ xin giải quyết chế độ thương binh của ông có rất nhiều chữ ký, con dấu làm chứng của đồng đội, chỉ huy trận đánh hôm 1/2/1975.
Ngày 26/5/2005, ông Lê Minh Lợi - hiện công tác tại Phòng NN&PTNT huyện Triệu Phong, trước đây là B trưởng C34B pháo binh Tỉnh đội Quảng Trị - đã viết giấy xác nhận và cam đoan chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về sự việc chiến sĩ pháo binh Nguyễn Quang Dự là người đã bị thương trong trận đánh tại đồi 101 như đã khai.
Cũng như vậy, ông Phan Khắc Hạnh - nguyên đại uý chỉ huy đơn vị ông Dự - cũng cam đoan xác nhận nội dung trên để cho ông Dự làm chế độ thương binh. Ông Lê Hồng Sơn - nguyên là đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy trận đánh nói trên - đã xác nhận đúng là chiến sĩ pháo thủ Nguyễn Quang Dự bị thương trong trận đánh ngày 1/2/1975 do trúng pháo phản kích của địch.
Địa phương nơi anh Dự cư trú cũng thống nhất đề nghị các ngành hữu quan giải quyết chế độ thương binh cho ông. Biên bản họp nhân dân ngày 30/5/2005, và biên bản hội nghị liên tịch đề nghị giải quyết thương binh của xã Triệu Phước đều khẳng định nội dung ông Dự bị thương trong quân ngũ khi chiến đấu.
... nhưng chính quyền không xét
Trong tờ trình gửi Bộ Quốc phòng, ông Nguyễn Quang Dự viết: “Tôi đã chiến đấu và bị thương trong vai trò pháo thủ số 1 trực diện với địch. Từ đó đến nay, tôi không tìm được bạn bè cùng chiến đấu để nhờ xác nhận làm chế độ thương tật.
Bởi lý do hoàn cảnh sống của tôi quá khó khăn, tôi như người mất trí, cứ mỗi khi thời tiết thay đổi thì tôi lên cơn kinh phong, chết đi sống lại, thường xuyên bị nhức đầu, chóng mặt, không làm lụng gì được. Tôi đau ốm quanh năm, thất lạc bạn bè. Mãi đến 30/4/2005, đơn vị cũ tổ chức gặp mặt, tôi mới được gặp lại đồng đội cùng đơn vị...”.
Ông Dự cho biết: Sau khi hoàn thành hồ sơ, ngày 12/4/2006, ông mang lên nộp tại Huyện đội Triệu Phong. Cơ quan này trả lời: Bây giờ không căn cứ người xác nhận, mà phải có giấy ra viện hoặc trong quyết định xuất ngũ phải có ghi ngày chiến đấu bị thương. “Tôi biết lấy đâu ra các loại giấy tờ đó!” - ông Dự nói.
Sau khi gửi tờ trình sự việc lên Bộ Tư lệnh Quân khu IV, ông Dự đã nhận được phiếu trả lời đề ngày 10/5/2006 của Phòng Chính sách Quân khu IV như sau: “Trường hợp hồ sơ thương binh của ông là hồ sơ hai người làm chứng do ông làm muộn, chưa được Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị thẩm định, chưa được giám định vết thương thực thể và chưa được tỉnh cấp giấy chứng nhận bị thương”.
Xin hỏi làm sao ông Dự có thể tự làm các công việc ấy khi mà ngay từ cấp đầu tiên là Huyện đội Triệu Phong nơi ông Dự đến nộp hồ sơ, đã bị từ chối tiếp nhận? Rõ ràng, với chính sách như hiện nay, không thể đòi hỏi những người thương binh không có sức khoẻ tự “chạy thủ tục”.
Công văn này cũng nêu rõ: Cơ quan chức năng “chỉ tiếp nhận hồ sơ thương binh có giấy chứng nhận bị thương gốc, hoặc các giấy tờ liên quan như giấy ra viện, giấy chuyển thương, hồ sơ bệnh án...”. Ông Dự nói rằng, toàn bộ giấy tờ ra viện của ông bị trận lũ năm 1983 cuốn trôi sạch cùng với nhà cửa, của cải rồi.
Vậy ở trường hợp cụ thể của ông Dự, có hay không sự bất hợp lý, cứng nhắc, thái độ thụ động, quan liêu của một số cán bộ được giao trách nhiệm giải quyết chính sách cho thương binh? Đã 31 năm trôi qua, người có công với đất nước như ông Dự vẫn phải long đong chạy vạy để đòi cho mình cái quyền đáng lẽ được toàn xã hội thừa nhận. Và ông Dự còn phải chờ bao nhiêu năm nữa?
Theo Lam Chi
Lao Động