(Dân trí) - Án 17 năm tù đã được tuyên cho Hồ A Dơi (tên thường gọi là Pả Vũ) vì tội giết vợ. Pả Vũ giờ vẫn đang chấp hành án tù của mình; chỉ tội 6 đứa con nhỏ của Pả Vũ, không được đến trường, sống nheo nhóc, leo lắt bên người bà già yếu…
“Trong thôn, nhà Giả Thình (bà Thình) cực nhất, lại toàn gặp chuyện không may. Những hộ khác cũng cực nhưng không đến nỗi…” - vừa đi, Hồ A Riềng, trưởng thôn Húc Thượng (xã Húc, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị) vừa kể với chúng tôi. Vượt qua đoạn đường lầy lội, chúng tôi đến ngôi nhà sàn nằm khép nép cuối bản của bà cháu Giả Thình.
Bi kịch gia đình
Đến giờ, vụ án Pả Vũ giết vợ (xảy ra năm 2006) vẫn là câu chuyện buồn mà người dân thôn Húc Thượng thường nhắc đến. Người ta hoang mang không hiểu vì sao “Pả Vũ vốn hiền như đất thế, lại có thể cầm rựa chém vợ”? Kẻ mê tín luôn miệng đổ lỗi cho con “ma rừng”. Và sau mỗi cuộc bàn luận ấy, cảnh đàn con Pả Vũ nheo nhóc sau cái chết mẹ, án tù cha, vẫn được nhắc đến nhiều nhất.
Gia đình Pả Vũ đang ấm êm, cơn gia biến ập đến đột nhiên làm tan đàn xẻ nghé. Hồ Văn Vũ (SN 1991), Hồ THị Vít (SN 1994), Hồ Thị Đít, Hồ Văn Lít (SN 1998) đang ngày ngày đến trường buộc phải thôi học. Hồ Văn Phít mới lên 2 và Hồ Văn Phùng hơn một tuổi, bị tật nguyền, bỗng chốc mất đi vòng tay yêu thương của cha mẹ.
Nỗi đau mất cha mẹ chưa nguôi, mấy anh em lại phải tạm sống xa nhau, đứa ở với bà, đứa theo bác lên rẫy, đứa được cậu cưu mang…
Ông Lê Châu Tuấn, Phó Công an xã kiêm công tác tư pháp, tâm sự: “Người Vân Kiều có đặc điểm: con cháu, con bác, con vợ, con chồng… đều là con chung cả. Ai cũng thương cảm, đón nhận các cháu về”. Nhưng từ tấm bé đã phải chịu cảnh chia ly mất mát quá lớn, hầu hết các em đều không thể tìm lại được sự hồn nhiên trong tâm hồn. Sáu đứa trẻ rủ nhau về cùng chung sống với bà nội. Người bà già cỗi phải gắng gượng lo cho 6 đứa cháu thơ dại.
Bà con thôn Húc Thượng đều thương gia cảnh Giả Thình, gom góp mỗi người một ít giúp mấy bà cháu có cơm ăn. Nhưng gia đình nào trong bản cũng 9-10 miệng ăn cả, “lo cái nồi nhà mình còn không nổi”, làm sao giúp mãi. Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ… cũng góp công, góp sức cưu mang các em nhưng chủ yếu là bà cháu vẫn bữa đói, bữa no sống qua ngày.
Lá vàng ấp ủ lá non
Trò chuyện với chúng tôi, Giả Thình cố nén nỗi đau cũ, luôn miệng nhắc đến các cháu. Những ngày đầu các cháu mới về, bà vẫn động viên các cháu tiếp tục đi học. Nhưng đứa lớn nhất bảo: “Bố bị bắt, cái lòng buồn lắm! Không đi học được đâu…”. Còn đứa nhỏ nói: “Đi học mà không có cái chi ăn thì đi tìm rau, tìm sắn còn hơn”. Nghe thế, Giả Thình chỉ còn biết nuốt nước mắt, xót xa nghĩ: “Thế là cái chữ không cứu giúp bà cháu được nữa rồi!”.
Dù ngoài 70 tuổi, lại ốm đau suốt, Giả Thình vẫn ngày ngày lên nương, vì bà biết bữa ăn của các cháu phụ thuộc cả vào đó. Mùa bắp, cả nhà ăn cơm trộn bắp. Mùa sắn, có khi bà cháu ăn sắn trọn hai ngày… Những hôm mưa bão, thấy các cháu run cầm cập vì đói, bà không cầm lòng, lại đội mưa tìm lá, tìm rau. “Chừ mẹ chịu, không biết làm chi. Mẹ không nuôi cháu thì ai nuôi? Mẹ phải cố kiếm cái ăn cho các cháu…”, bà ngậm ngùi.
Giả Thình tâm sự về cậu út tật nguyền: “Lúc bố nó bị bắt, nó bé như bắp chuối rừng, đêm nào cũng khóc vì đói sữa… Vậy mà ăn rau, ăn sắn cũng lớn thế này rồi”. Bà nở nụ cười hiếm hoi, chỉ tay về phía cậu bé đang tập tễnh ở góc nhà.
Một nách kiếm ăn, nách kia Giả Thình lo việc dạy dỗ đàn cháu nhỏ. Bà chú ý sửa từng lời nói, bảo ban từng hành động của chúng. Người đàn bà “gần đất xa trời” này quyết tâm làm cho người đời hiểu rằng: Tuy bố chúng đi tù, mẹ chúng bị giết chết, nhưng chúng vẫn là người tử tế. Vì vậy, nhỡ đứa nào làm việc gì sai, bà rất phiền lòng. Có bữa bà không nuốt nổi miếng cơm khi cháu nói hỗn với người trong bản.
Những đứa trẻ bất hạnh này vì thế có ý thức từ nhỏ, chúng biết thế nào là đúng sai, biết tranh thủ giúp đỡ bà. “Lớn lên thì không biết, giờ thì mấy cháu ngoan. Mẹ nói gì cũng nghe”, Giả Thình mãn nguyện.
Ở cái tuổi này rồi, cả đời lam lũ khốn khó, bà Thình chỉ có hai ước muốn cuối cùng: Thứ nhất, bà cháu được gặp Pả Vũ (đứa con trai tội lỗi của bà bị giam ở Đà Nẵng, chỉ có đứa con trai lớn vào thăm). Bà muốn gặp con để nói rằng, bà sẽ tha thứ cho nó nếu nó biết hối cải. Thứ hai, bà mong các cháu được đến trường. “Mẹ chỉ mong các cháu mẹ được đi học, chỉ bốn đứa sau thôi cũng được...”.
Hỏi cô bé con có muốn đi học không, hai mắt sáng lên, nhưng cô bé lại ấp úng trả lời: “Không, em không đi học đâu. Em phải đi kiếm rau, nhổ sắn”. Nghe thế, Giả Thình âu sầu: “Cái nghèo nó kéo cái chữ. Không biết bao giờ cái nghèo tha cho các cháu mẹ, để chúng còn tới trường đây?”.
Trương Quang Hiệp