Thứ Hai, 17/03/2008 - 15:52

Nhà thơ 30 năm đứng viết

(Dân trí) - Tai họa đã quật ngã chàng trai hai mươi tuổi Trương Quang Thứ. Cứ ngỡ Thứ sẽ vĩnh viễn không thể gượng dậy, nhưng niềm khát khao được sống, đuợc cống hiến đã giúp anh có đủ nghị lực đứng vững giữa cuộc đời, viết nên những bài thơ trữ tình sâu lắng.

Những vần thơ trên giường bệnh

 

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo có tới 11 anh chị em ở làng Trắp, cửa biển Quỳnh Lập, Quỳnh Lưu, Nghệ An, Trương Quang Thứ vẫn được gia đình tạo điều kiện cho đến trường. Là một cậu bé thông minh, sớm có năng khiếu về văn thơ, ngay từ những năm học cấp 1, Thứ đã có thơ đăng báo.

 

Luôn là học sinh giỏi toàn diện, đáng lẽ tương lai Thứ sẽ tốt đẹp, đúng như kỳ vọng của cả gia đình. Nhưng tai họa ập đến vào năm 1972, trong một trận oanh tạc của không lực Hoa Kỳ, Thứ bị một mảnh bom găm vào chân. Vết thương nhiễm trùng rồi sinh ra bệnh khớp cùng nhiều tai biến khác như sốt nặng, chân bị đau, mỏi, cột sống bị liệt. Đó là năm Thứ vừa bước sang tuổi hai mươi, độ tuổi đẹp nhất của đời người.

 

Gia đình đã đưa Thứ đi chữa trị khắp các bệnh viện nhưng Thứ vẫn nằm bất động. Trong 3 năm tật bệnh nằm liệt giường, anh nghĩ cuộc đời mình thế là hết, và đôi lần anh đã nghĩ đến cái chết. Nhưng, anh nhớ lại, “tôi nhìn qua cửa sổ, tôi thấy cây vẫn xanh chồi non búp lá, bầu trời vẫn trong xanh và chim vẫn hót. Cuộc đời vẫn có nhiều cái đẹp để đáng yêu, chưa phải là đã hết”. Và Thứ gượng đứng dậy.

 

Những cảm nhận về cuộc đời, về thế giới khách quan, về nỗi đau của nhân thế, của chính mình được Thứ gửi gắm vào những vần thơ. Thơ của anh đều đặn xuất hiện trên các báo Phụ nữ, Tiền phong, Văn nghệ... Những bài thơ trữ tình sâu lắng và có sức sống mãnh liệt được anh viết khi đang còn nằm bẹp trên giường, đã được độc giả đón nhận.

 

Tòa soạn và những độc giả yêu thơ anh liên tục gửi thư về động viên và mời gặp mặt nhưng anh chưa một lần  lộ diện. Mọi người đều nói Thứ nên cho toà soạn biết hoàn cảnh của mình, biết đâu họ sẽ giúp đỡ nhưng anh lắc đầu. Anh không muốn người khác phải bận tâm, “chiếu cố” đến mình.

 

Anh Hùng, một người bạn của anh Thứ, cho biết: “Những ngày đó nhìn anh ấy chỉ còn da bọc xương, teo tóp như con mắm khô, nằm dán trên giường trông thật tội. Mọi người cứ tưởng Thứ sẽ không qua được. Nhưng, nghị lực, ý chí và tình yêu cuộc sống của anh thật mãnh liệt. Anh tự lăn xuống giường tập bò, tập đi và… làm thơ.

 

Thơ Thứ  hồi đó nổi tiếng đến nỗi các cô gái mê thơ đã theo tiếng thơ tìm đến, nhưng khi nhìn thấy anh nằm bẹp trên giường, họ đã ngậm ngùi bỏ đi...”.

 

Tình yêu chắp cánh

 

Năm 1976, Trương Quang Thứ được gia đình đưa ra Bệnh viện Hà Bắc chữa trị. Tại đây, anh vẫn đều đặn làm thơ. Và cũng chính tại nơi đây, anh đã gặp chị Trần Thị Nị - hoa khôi của trường Trung cấp kỹ thuật Hà Bắc - trong một lần chị vào viện thăm bạn bè.

 

Chẳng biết cô gái mê thơ anh, hay ông trời se duyên, mà Nị luôn mượn cớ đến xin thơ để chăm sóc Thứ. “Tình cảm của chúng tôi nảy nở bắt đầu từ đó. Tôi nhận biết được tình cảm của cô ấy từ cái nhìn đầu tiên, Tôi cũng yêu Nị nhưng khi Nị nói muốn gắn bó với tôi suốt cuộc đời, tôi đã giật mình. Tôi không thể... Nhưng tình yêu mãnh liệt của cô ấy đã thuyết phục được tôi”, anh kể.

 

Mặc cho nhiều người dèm pha, mặc cho cha mẹ và anh em họ hàng phản đối, Nị vẫn nhất quyết về làm vợ Thứ. Cuộc tình của đôi trai tài nhưng tật nguyền và cô gái sắc nước hương trời ngày ấy khiến cả huyện Quỳnh Lưu xôn xao…

 

Nhà Thứ đông anh em, nghèo lắm. Hai vợ chồng được gia đình dựng cho túp lều giữa làng Trắp. Người vợ vốn không quen với ruộng đồng, tôm cá, nhưng hoàn cảnh buộc chị phải xuống biển cào nghêu, mò cua bắt ốc,… kiếm tiền cơm cháo, thuốc thang cho chồng. Tối về Nị lại ngồi bên chồng nghe anh đọc thơ, thổi sáo. Cuộc sống tuy nhiều cơ cực, bần hàn nhưng họ cảm thấy thật hạnh phúc.

 

Năm 1978, cậu con trai đầu lòng Trương Quang Văn chào đời. Đó là niềm vui, niềm hạnh phúc và cuộc sống cũng bắt đầu những khó khăn từ đó. Tiền nhuận bút từ thơ của anh Thứ không được bao nhiêu, cái ăn hàng ngày đều trông cậy vào sự tần tảo của người vợ và sự giúp gíup đỡ của anh em họ hàng, bà con xóm làng.

 

Không thể như thế mãi được. Anh nhờ người cột cho hai cây sào để tập đi. Y học đã hoàn toàn bó tay nhưng ý chí và bản lĩnh của con người đã chiến thắng. Anh nhớ lại: “Tôi tập có đến hàng ngàn lần mới đứng dậy được. Đứng được rồi là có hy vọng, tôi lại từng bước tập đi”. Kiên trì tập luyện, sau hai năm, Thứ lại “được” chập chững như trẻ lên 2, nhưng anh chỉ đi được một chân, còn chân kia vẫn bất động và teo tóp như que củi khô, phải nhờ sự hỗ trợ của cây nạng gỗ.

 

Anh bắt đầu chế tạo ra chiếc cuốc cán dài để  làm vườn. Tuy rất vất vả nhưng anh vẫn làm quần quật như một lao động chính. Anh vừa cầm cuốc vừa cầm bút. Những bài thơ chắt chiu từ cuộc sống của anh vẫn liên tục xuất hiện trên các báo, tạp chí từ địa phương đến trung ương và gặt hái được nhiều giải thưởng: Giải nhì Hội Văn học nghệ thuật Nghệ Tĩnh 1991; giải 3 báo Nhi đồng năm 1994; giải B báo Nghệ An năm 1996; giải B tạp chí Sông Lam 1996; giải khuyến khích báo Thiếu niên tiền phong năm 2000...

 

Đến nay anh đã xuất bản được hai tập thơ là “Tình trăng” và “mâm quả biết đi” viết cho thiếu nhi được đánh giá cao.

 

Khi chúng tôi đến chơi, gặp nhà thơ Trương Quang Thứ đang miệt mài đứng viết nơi chiếc quày đựng lúa, đồng thời cũng là bàn thờ của gia đình anh. 30 năm đứng viết, anh vẫn tràn đầy nhiệt huyết sống: “Chính tình yêu của Nị đã giúp tôi có thêm ý chí và nghị lực để vượt qua tật bệnh, đói nghèo để sống, để xứng đáng với tình yêu của cô ấy”.

 

Gương sống của người cha tật nguyền nhưng giàu ý chí đã trở thành nguồn sữa nuôi dưỡng các con anh nên người. Những đứa con của anh chị sinh ra trong đói nghèo, kham khổ nhưng tất cả đều rất ngoan hiền và học giỏi nổi tiếng ở huyện Quỳng Lưu.

 

Người con đầu Trương Quang Văn đã tốt nghiệp đại học KHXH&NV Hà Nội, nay là giáo viên trường PTTH Hoàng Mai; người con trai thứ Trương Quang Chương (SN 1981) đã tốt nghiệp Học viện Quân sự, nay làm việc ở Bộ Tư lệnh thông tin; người con trai út Trương Quang Phương đang học Đại học Thuỷ sản Vinh.

 

Chính cuộc đời anh Trương Quang Thứ đã là một bài thơ đậm chất đời, chất người nhất. Dáng anh đứng viết mỏng manh lay lắt, nhưng ẩn trong đó là một nghị lực phi thường và một con tim đầy tình yêu thương, khát khao yêu người, yêu đời.

 

Chia tay anh, bên tai tôi văng vẳng những vần thơ anh viết: “Ngỡ tâm hồn chai sạn từ lâu/ Trước mưa xuân, trước tình em man mát/ Những gian truân buồn đau mất mát/ Hoá nồng nàn niềm hạnh phúc ùa theo”.

 

Tiến Dũng