(Dân trí) - Snow Leopard đã chính thức được phát hành, còn Windows 7 thì muộn hơn 1 tháng. Mặc dù là hai sản phẩm được cho là sẽcạnh tranh lẫn nhau, nhưng người sử dụng lại thấy sự khác biệt giữa Mac và Windows ngày càng được thu hẹp.
Trình
quản lý tệp tin
Finder của Snow Leopard và Explorer của
Windows 7 có giao diện tương tự như nhau với ô tìm kiếm nhanh ở góc trên bên phải
cửa sổ. Tuy nhiên, Finder lại không có thanh đường dẫn ở bên trên như Windows
Explorer.
Libraries
(Thư viện)
Windows 7 có một điểm khác biệt
trong việc quản lý tệp tin: tất cả các tài liệu được quản lý bởi Thư viện. Trong
Thư viện được chia làm nhiều nhóm như Documents (Văn bản), Pictures (ảnh),
Music (âm nhạc), Videos (phim). Mỗi nhóm lại có thể được chia thành dạng dành
riêng cho một account hoặc chia sẻ cho nhiều người dùng (public).
Smart
Folders (Quản lý thư mục thông minh)
Snow Leopard không có kiểu quản lý
như Libraries của Windows 7. Tuy nhiên nó có một tính năng gần giống được gọi
là Smart Folders – Quản lý Thư mục thông minh. Thực chất của tính năng này là khả
năng lưu một điều kiện tìm kiếm thành dạng một thư mục.
Ví dụ: Người dùng yêu cầu máy tìm kiếm
ảnh, video hoặc văn bản theo một điều kiện nào đó. Kết quả tìm kiếm sẽ là danh
sách các file nằm rải rác ở đâu đó trong ổ cứng. Snow Leopard cho phép người
dùng lưu lại danh sách này như một folder mới và gọi là Smart Folders.
Windows 7 cũng có tính năng này, hoạt
động cũng rất tốt. Bạn chỉ cần chọn Search và nhập vào điều kiện tìm kiếm. Sau
khi máy tìm xong, bấm vào nút Save Search bên trên là có thể lưu kết quả tìm
này để lần sau sử dụng lại.
Big
Icons (Hỗ trợ hiển thị biểu tượng cỡ lớn)
Cả hai hệ điều hành đều hỗ trợ hiển
thị các biểu tượng với kích cỡ lớn. Windows 7 có khả năng hiển thị biểu tượng
là 256 x 256 pixel, còn Snow Leopard thì có thể hiển thị lên tới 512 x 512
pixel.
Tuy nhiên, việc hiển thị lên tới 512 x 512 pixel của Snow Leopard lại
không được thực tế cho lắm.
Quick
Access via the Dock or Taskbar (Truy cập nhanh qua thanh Tác vụ)
Thanh tác vụ trong Snow Leopard được
gọi là Dock, còn Windows 7 gọi là Taskbar. Cả hai đều có chức năng như nhau là
hiển thị các biểu tượng ứng dụng thường dùng được đặt trên đó và quản lý các ứng
dụng đang mở.
Một số ứng dụng OS X có thể sử dụng
Dock để hiển thị các ứng dụng thông tin cụ thể và dễ dàng truy cập đến các lệnh
thường xuyên sử dụng.
Ví dụ, nếu bạn chuột phải vào biểu
tượng Dock iTunes, bạn sẽ nhận được một menu mà bạn có thể xem những gì đang bật,
bật hoặc tạm dừng một bài hát trong danh sách, hoặc gán một đánh giá cho bài
hát hiện hành, và thực hiện các lệnh đơn giản khác.
Windows 7 cũng đã có cái tiến đặc biệt
thanh Taskbar với tính tăng tương tự gọi là Jump list (Danh sách nhảy). Khi đưa
con trỏ tới các biểu tượng ứng dụng trên thanh Taskbar, máy sẽ hiện ra các file
hoặc các cửa sổ đang mở của ứng dụng đó. Người dùng có thể can thiệp nhanh vào
các cửa sổ đó qua các lệnh đơn giản như đóng, mở hoặc bât, tắt, tạm dừng đối với
Windows Media Player.
Việc đưa các biểu tượng vào thanh
Taskbar của Windows 7 rất đơn giản. Người dùng chỉ cần kéo và thả các biểu tượng
vào thanh Taskbar, nó tự động tạo biểu tượng trên đó. Thao tác này gọi là Pin
(đính vào). Ngược lại, nếu muốn gỡ bỏ thì kích chuột phải vào biểu tượng và chọn
Unpin.
Preview
(Chế độ xem trước)
Chế độ xem trước của Snow Leopard
Snow Leopard có các tính năng Quick
Look, Cover Flow để xem trước các file. Nếu là file âm nhạc thì máy sẽ hiển thị
các nút điều khiển như bật, dừng. Nếu đưa chuột qua các file văn bản thì nó sẽ
hiển thị các nút trang để lật xem.
Chế độ xem trước của Windows 7.
Windows 7 có một khung xem trước Preview
Pane (ở dạng tùy chọn) có khả năng xem trước ở bất kỳ cửa sổ Explorer nào ở khung
xem trước bên phải. So với tính năng xem trước của Snow Leopard, Windows 7 có vẻ
đơn giản hơn nhưng cũng rất tiện dụng.
Desktop
(quản lý màn hình nền)
Snow Leopard
cho phép hiển thị đồng thời các cửa sổ và kéo nội dung của một cửa sổ sang một
cửa sổ khác. Điều đó cũng được thực hiện đối với các ứng dụng độc lập bằng cách
bấm và giữ các biểu tượng của ứng dụng trên thanh biểu tượng.
Windows 7
cho phép người dùng ẩn nhanh tất cả các cửa sổ trên màn hình bằng cách đưa con
trỏ vào nút Show Desktop ở góc dưới bên phải màn hành (không cần bấm). Khi dịch
chuyển con trỏ ra chỗ khác, tất cả các cửa sổ sẽ được khôi phục. Ngoài ra,
Windows còn cho phép xem nhanh một cửa sổ bằng cách đưa con trỏ xuống biểu
tượng của ứng dụng đó dưới thanh Taskbar mà không cần chuyển hẳn vào ứng dụng
đó. Tuy nhiên, các tính năng này chỉ có khi chạy chế độ giao diện Aero.
Với giao diện Aero peek, Windows 7 có thể biến tất cả các cửa sổ đang chạy thành trong suốt.
Nhìn vào sự
cải tiến mạnh mẽ của Windows 7, cùng với sự phản hồi tích cực
của người dùng, Microsoft có thể tạm quên được bóng ma thất bại của Windows
Vista. Tuy nhiên với những ưu điểm riêng của hệ thống Mac với Snow Leopard,
có lẽ trong thời gian tới tương quan Windows giữa OS X vẫn không thay đổi.
Quốc Long
Theo PcWorld