Thứ Hai, 11/01/2010 - 07:15

Tư vấn pháp luật

Lương và trợ cấp thôi việc tính như thế nào?

Dân trí “Tôi làm việc cho Công ty từ ngày 2/1/2005 đến 31/12/2009. Chuẩn bị kết thúc hợp đồng ngày 31/12/2009 tôi đã báo xin nghỉ việc trước đó 3 tháng, bây giờ công ty nói tôi chỉ được trả tiền trợ cấp là 2 tháng và lương trả trợ cấp thôi việc là ở năm 2008.

Trong khi năm nay (2009) lương của tôi gấp đôi. Công ty bảo do công ty có dưới 10 lao động nên không phải đóng tiền bảo hiểm thất nghiệp, và từ khi có bảo hiểm thất nghiệp thì công ty không tính để trả trợ cấp thôi việc.

Xin hỏi như thể có đúng không và nếu có thì tôi được trợ cấp mấy tháng lương cho 5 năm làm việc của mình và lương trả trợ cấp thôi việc tính ở thời điểm nào? (Một bạn đọc ở Tuy Hoà, Phú Yên )

Luật sư Nguyễn Hồng Bách trả lời:

Điều 42 Bộ luật lao động quy định: “Khi chấm dứt Hợp đồng lao đông đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có từ đủ 12 tháng trở lên người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng phụ cấp lương nếu có”, bạn thuộc trường hợp được hưởng thôi việc.

Theo Điều 2 – Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 sửa đổi, bổ sung một số điểm của thông tư số 21/2003/TT – BLĐTBXH ngày 22/9/2009 quy định: Công thức tính trợ cấp thôi việc ở từng doanh nghiệp:

Tiền trợ cấp thôi việc

=

Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc

x

Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc

x 1/2

Trong đó:

Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc (tính theo năm) được xác định theo khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ, trừ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ. Trường hợp, tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ (kể cả trường hợp người lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên nhưng tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc dưới 12 tháng) thì được làm tròn như sau:

Từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng làm tròn thành 1/2 năm.

Từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng làm tròn thành 01 năm.

Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

Đồng thời, tại Điều 41 – Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm thất nghiệp có quy định:

“1. Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội không được tính để hưởng trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về cán bộ, công chức.

2. Thời gian người lao động thực tế làm việc theo các bản hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với người sử dụng lao động mà không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp thì được tính để xét hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật lao động hiện hành hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Tiền lương, tiền công làm căn cứ tính chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo pháp luật về lao động là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

Tiền lương làm căn cứ tính chế độ trợ cấp thôi việc theo pháp luật về cán bộ, công chức là mức lương theo ngạch, bậc, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp khu vực, phụ cấp thâm niên vượt khung, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có), tại thời điểm thôi việc.

3. Thời gian người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội được tính để miễn trách nhiệm trả trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức.”

Căn cứ vào các quy định trên, do công ty không tham gia đóng Bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, nên khi chấm dứt Hợp đồng lao động với bạn, Công ty sẽ phải trả trợ cấp thôi việc cho bạn trong thời gian từ ngày 01/01/2009 đến ngày 31/12/2009,  tương ứng với ½ tháng lương tính theo Hợp đồng lao động.

Như vây, Công ty sẽ phải tri trả cho bạn tiền trợ cấp thôi việc tương ứng với 05 năm bạn đã làm việc cho công ty là 2.5 tháng lương theo Hợp đồng lao động giữa bạn với công ty theo đúng quy đinh của pháp luật.

Ngoài ra theo quy định tại khoản 3, điều 76 Bộ luật lao động, “người lao động do thôi việc hay vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được trả lương những ngày chưa nghỉ”, Công ty còn phải trả cho bạn khoản tiền lương tương ứng với những ngày nghỉ phép hàng năm theo quy định mà bạn chưa nghỉ.

Tại điều 43 Bộ luật Lao động, trong thời hạn 07 ngày, trường hợp đặc biệt không quá 30 ngày, Công ty có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản liên quan đến quyền lợi của bạn, trong đó có trợ cấp thôi việc. Đồng thời, đồng thời Công ty cũng phải hoàn trả sổ Bảo hiểm xã hội và sổ lao động cho bạn.

Văn phòng Luật sư Hồng Bách và Cộng sự, Số 6 đường Trung Yên 3, Trung Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội. Điện thoại: 84.4. 37868574     Fax: 84.4. 37868575. Website: hongbach.com